Phẫn Nộ Đại Tôn Giả

Phẫn Nộ Đại Tôn Giả

Thứ Hai, 9 tháng 5, 2016

Phúc Âm John (17, 1-26)



Lời cầu nguyện của Ðức Giêsu

(1) Thế rồi Ðức Giêsu ngước lên trời và cầu nguyện:
"Lạy Cha, giờ đã điểm!
Xin Cha cho Con Cha được tôn vinh
để Con Cha tôn vinh Cha,

(2) Thật vậy, Cha đã ban cho Con của Cha
quyền vượt xuất mọi phàm nhân
là để Con của Cha ban sự sống đời đời
cho tất cả những chiên
mà Con nhận lĩnh từ lệnh Cha.

(3) Sự sống đời đời đó
là được nhận biết Cha,
Thiên Chúa đơn nhất và chân thật,
và được biết Ðấng Cha đã sai đến,
là Giêsu Kitô.

(4) Phần Con, Con đã tôn vinh Cha trên mặt đất,
khi hoàn tất công trình
Cha trao Con làm.

(5) Vậy lạy Cha,
giờ xin Cha cho Con được tôn vinh và bên Cha:
xin ban cho Con vinh quang
mà Con vẫn được hưởng bên Cha
trước khi xuống thế gian.

(6) Những kẻ được Cha chọn trong thế gian
và ban cho Con,
Con đã cho họ biết danh Cha.
Họ thuộc về Cha,
Cha đã ban họ cho Con,
và họ đã tuân giữ lời Cha.

(7) Giờ đây, họ biết rằng
tất cả những gì Cha ban cho Con
đều do bởi Cha,

(8) vì Con đã ban cho họ
Lời mà Cha ban cho Con;
họ đã nhận những Lời ấy,
họ thật biết rằng
Con từ Cha mà đến,
và họ tin rằng Cha đã sai Con.

(9) Con cầu nguyện cho họ.
Con không cầu nguyện cho thế gian,
mà cho những sinh mệnh Cha ban cho Con,
bởi lẽ họ thuộc về Cha.

(10) Tất cả những gì của Con đều là Cha ban,
tất cả những gì của Cha, Con đều gìn giữ,
và Con được tôn vinh nơi họ.

(11) Con không còn ở trong thế gian nữa,
nhưng họ còn phải trong thế gian;
phần Con, Con xin quỳ phụng dưới chân Cha.
Lạy Cha chí thánh,
xin gìn giữ các môn đệ
trong danh Cha mà Cha đã ban cho Con,
để họ có ngày quy nhất.

(12) Khi còn ở với họ,
Con đã gìn giữ họ
trong danh Cha mà Cha đã ban cho con.
Con đã canh giữ,
để không một ai trong họ phải hư mất,
trừ đứa hư hỏng,
để ứng Lời Kinh Thánh.

(13) Bây giờ, Con xin đến phụng dưới Cha,
và Con kêu những điều này
khi đang ở thế gian,
để họ được hưởng trọn vẹn
niềm vui của Con.

(14) Con đã truyền lại Lời của Cha cho họ,
và thế gian đã ghét họ,
vì họ không còn thuộc về thế gian,
cũng như Con đây không thuộc về thế gian.

(15) Con không xin Cha mang họ khỏi thế gian,
nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần.

(16) Họ không thuộc về thế gian
cũng như Con đây không thuộc về thế gian.

(17) Xin Cha lấy cho họ được thánh hiến nhờ điều Chân nơi Cha
Lời Cha là Chân.

(18) Như Cha đã sai Con đến thế gian,
thì Con cũng sai họ đến thế gian.

(19) Con xin thánh hiến chính mình Con cho họ,
để nhờ điều Chân đó, họ cũng được thánh hiến.

(20) Con không chỉ cầu nguyện cho những người này,
nhưng còn cho những ai
nhờ lời họ mà tin vào Con,

(21) để tất cả quy nhâts,
để được, lạy Cha, như Cha ngự trong Con và Con ở trong Cha
để họ cũng ở trong chúng ta.
Như vậy, thế gian sẽ tin rằng
Cha đã sai Con.

(22) Phần Con, Con đã ban cho họ vinh quang
mà Cha ban cho con,
để họ được quy nhất
như con thuộc về Cha như Một:

(23) Con ngự trong họ như Cha ngự trong con,
để họ được hoàn toàn quy nhất;
như vậy, thế gian phải biết
là chính Cha đã sai Con
và Cha yêu thương họ
như đã yêu thương Con.

(24) Lạy Cha,
con nguyện rằng dẫu ở đâu,
thì những người Cha đã ban cho Con
cũng ở đó với Con,
để họ chiêm ngưỡng vinh quang của Con,
vinh quang mà Cha ban cho 
vì Cha đã yêu thương Con
trước khi tạo thành thế gian.

(25) Lạy Cha là Ðấng chí thượng Công Chính,
thế gian đã không biết Cha,
nhưng con, con đã biết Cha,
và những người này đã biết
là chính Cha đã sai Con.

(26) Con đã cho họ biết danh Cha,
và sẽ còn cho họ biết nữa,
để ơn Cha đã ban Con sẽ ngự trong họ,
và Con cũng ngự trong họ."

Lại nói chuyện về J


 "Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin"
 "Ðặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Ðưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Ðừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin"

Trong Kinh Thánh Tân ước, Phúc Âm John, có một đoạn kể chuyện sau khi Đức Jesus hồi sinh rồi, mà các tông đồ còn chưa tín hẳn điều đó:

 "Một người trong Nhóm Mười Hai, tên là Tôma, cũng gọi là Ðiđymô, không ở với các ông khi Ðức Giêsu đến. Các môn đệ khác nói với ông: "Chúng tôi đã được thấy Chúa!" Ông Tôma đáp: "Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin".

 Khi đọc đến đây anh bỗng nghĩ về sự này: khi nghe tin Đức Jesus bị đóng đinh, điều đầu tiên họ nghĩ là gì nhỉ? Anh chỉ muốn nghĩ đến điều này: có ai trong đó đã ngân vang trong đầu tiếng nói, "Thày bất tử, Thày sẽ hồi sinh từ cõi chết để xướng danh Cha của Người." Có ai dám tin vào phép màu của Đấng Hằng Sống, ai tìn vào lời Thày mình đến thế nhỉ?

Không ai, đáng buồn thế. Anh chẳng muốn nghĩ Đức Jesus đã nghĩ gì. Có thể Ngài cũng như anh.

Lời của ông Tô-ma mới thật buồn: "Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người...tôi chẳng có tin." Nếu không thấy cái chết của Người, ngươi không tin Người hồi sinh, Người Hằng Sống? Ngươi tin nỗi sợ hơn điều cao quý, sức mạnh nhân gian hơn Thánh Thần, cái chết hơn là Sự Sống? Ngươi tin vào nỗi yếu đuối nơi ngươi hơn điều hùng cường từ bầu trời cao? 

Đoạn tiếp trong Kinh Thánh thật tuyệt vời:

Tám ngày sau, các môn đệ Ðức Giêsu lại có mặt trong nhà, có cả ông Tôma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Ðức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: "Chúc anh em được bình an" Rồi Người bảo Tôma: "Ðặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Ðưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Ðừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin". Ông Tôma thưa Người: "Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!"  Ðức Giêsu bảo:
"Vì đã thấy Thầy, nên anh tin.

Phúc thay những người không thấy mà tin!"


"Các cửa đều đóng kín" - Vì sao thế nhỉ? Để phép lạ của Đức Giê-su viên toàn, hay do lòng oán thán nghi ngại của những tông đồ hoảng sợ đa nghi?

Nhưng Ngài đã đến và đứng giữa các anh, với lời chúc cho nỗi sợ cực nhọc của anh em. Có điều gì thiện lành và tinh tế đến thế, Ngài bảo ông Tô-ma đặt ngón tay lên những vết thương mà vì anh em, vì nhân gian Ngài đã chịu. Những vết thương anh em sẽ không bao giờ hiểu.

Đừng cứng lòng nữa Tô-ma, phải đấy, vì khi biết đó là Thày rồi ngươi vẫn không tin. Có chạm vào vết thương đó rồi ngươi vẫn không tin. Vì ngươi đâu có tin vào Thày, đâu tin vào Chúa Cha, đâu tin vào điều thiêng liêng nào!

Tô-ma, những ngày lang thang trong nhân gian ngươi có buồn không? Đi đến tận Ấn Độ để trốn tránh sự yếu đuối nơi mình, hòng tìm lại chút Thần khí đã không bao giờ có nữa, ngươi có sợ không? Ngươi có thấy mắt Thày dõi theo ngươi không?

Tô-ma, vào giây phút ngươi muốn đặt ngón tay vào vết thương của Người, ngươi nghĩ gì vậy, có hồi hộp không, có sợ hãi không, có hưng phấn không? Có thấy phấn chấn rằng mình sắp chứng minh được sự Chết và sự Sống? Thày bảo ma quỷ đã chết rồi, chúng đã chết. Thày bảo Thày hồi sinh, Thày sẽ Sống. Thày bảo Thày là Con Thiên Chúa, Thiên Chúa gọi Thày là Con.


Đức Jesus đã bảo, vì đã thấy Thày, anh tin, Phúc thay cho những kẻ không thấy mà tin.

Đúng vậy đấy, Phúc thay cho những kẻ không thấy mà tin.

Còn ngươi?

Có muốn đặt ngón tay vào vết đinh trên thân Thày?



Thứ Tư, 4 tháng 5, 2016

Valkyrie



Anh thường nghĩ về những trí huệ cổ xưa, vốn vượt ra ngoài biên giới của suy tưởng thuần túy - trí huệ là những ánh sáng chói lọi kết nối với Thần Thánh, chứ không phải là thói thông minh khôn ngoan biết học thuộc, nói hay, bình giỏi của người thường. Thật may mắn cho những người Norse, họ chẳng biết đến tư duy phàm tục vào những buổi ấy, trí óc họ như một khu vườn địa đàng, mà mỗi lần Thần muốn chiếu sáng nó thì cảnh tượng hiện ra đều chân thực tươi đẹp tuyệt cùng. Thời hiện đại này, khi con người ta chẳng còn biết phải nghĩ gì, tuyệt vọng trong trí huệ và nhân phẩm, chúng ta chỉ có thể tìm đến những thú vui giải trí, đồ đạc đắt tiền, danh vọng hoặc tiền bạc - chúng ta đã quên mất khu vườn Thần Thánh, quên mất những vùng trời ẩn tàng những sức mạnh bao la, không còn biết đến những điều thiêng liêng thánh sạch là thật sự tồn tại. 

Nhưng con người cổ xưa biết điều đó, cả khi họ không thấy, cả khi bị ma cảnh giăng bày vây hãm: họ Tin.

Điều gì đã làm tâm trí thuần nhất và dữ dội của những người xứ Norse khi nhìn lên bầu trời đầy những ánh cực quang chói lọi gọi ra cái tên Valkyrie? Có phải đôi mắt hoang dã không biết đến tham đòi và trói buộc của những người Norse đấy nhìn xuyên qua cảnh đó để thấy những Nữ Thần Thuần Khiết Bất Tử phụng sự Odin, họ chọn lấy những linh hồn anh hùng đưa vào cung điện Thần Thánh để chuẩn bị cho cuộc chiến tận thế Thần Ma?

Valkyrie, những mũi giáo của nàng có đủ nhọn để đâm thủng ma tâm và khổ đau? Khiên trên tay nàng có đủ cứng để bảo vệ Odin hùng dũng bay trên bầu trời và tiêu diệt mọi Hắc Thần Ma Vương? Nàng bất tử vì phụng sự, quyền phép vì thánh khiết, dữ dội vì biết mình là ý chí anh hùng của những linh hồn dũng mãnh tinh thuần phải không?

Valkyrie, ta biết có những kẻ gọi nàng là ma quỷ nơi chiến trường, vì chúng chỉ có thù ghét và hoảng sợ. Ta biết chúng nhìn nàng như nhìn vào hố thẳm và vực sâu của chính chúng - chúng có thấy gì đâu, có thấy được gì đâu. Chúng chạy trốn nàng khi nàng cưỡi con ngựa của Thần Thánh băng qua những chiến trường mênh mông, nâng đỡ những anh hùng gục ngã, đưa họ về nơi họ xứng đáng thuộc về.

Valkyrie, nữ chiến binh của chư Thần, nàng sẽ bay lên những tầng trời cao lẫn những lớp đất dày, mang về điều cao quý, bảo vệ điều thiêng liêng, mạnh mẽ khiến ma quỷ lùi bước, quyết liệt khiến kẻ hèn nhát phải tủi hổ. Phải không?

Đi đi, hãy đi con đường nàng thuộc về, con đường vĩnh diệu, vinh quang, con đường mà Thần ban cho nàng. Ta sẽ gặp nàng ở nơi nàng thuộc về.

Chủ Nhật, 1 tháng 5, 2016

Phù Vân, Thế gian (02)

Thằng bé giật mình lùi lại, tái mặt lắp bắp: "Con nghe Sư phụ con dạy rằng Tiên Môn Chi Chiến là chuyện không bao giờ xảy ra, đó là việc không thuộc về người tu Đạo. Tại sao người thuộc Hỏa Môn với Bạch Môn lại có mâu thuẫn được?" "Tiểu tử, chuyện ngươi không lý giải được thì là vô Đạo sao? Ngươi thấp trí lại có tâm phán xét lớn, ắt sau này sẽ nhiều lần làm tổn hại đến Đạo. Nguyên sự vụ đặt định ngay tại Nhân gian có các Nhân Thần và Thánh Nhân, nhưng giữa họ không phải lúc nào cũng là đồng nhất chí hướng, do đó khó tránh sinh ra trái ngược mà phải đạo lí phải lấy pháp lực ra làm chỗ so sánh. Đừng tưởng việc đó là ngẫu nhiên tùy ý, chính là trong việc đó sẽ lại có Thiên Ý đứng sau điều chuyển, lại phải xem xem tận lực tri Thiên Mệnh." "Cô cô, dù sao con cũng không tin rồi sư môn con sẽ xung đột với Liễu Hạnh Tiên Chúa mà gây ra Đại Phong Ấn khắp cõi phong bế Thanh Long Đại Mạch và cả 36 kỳ sơn, 72 dị tuyền." "Tiểu tử, đó lại không phải là chuyện ngươi dấy tâm can thiệp hay nhận định. Chuyện của Thần không như chuyện của người. Tiểu tử, ngày nào con người không hướng Thần thỉnh ý nữa, mà từ mình xét đoán Thần linh, ngày đó chính là lúc Thần không trđỡ con người nữa, để mặc họ do duyên nghiệp và sự hủy hoại của họ." Thằng bé vò đầu bực bội nói: "Cô cô, nói một là Thần, nói hai là Thần, vậy chứ trí óc con đđâu, kẻ không tự chủ được cả suy nghĩ, phải đón tuân Thiên ý, chẳng phải là mất đi lý trí, làm chuyện ngông cuồng cũng dễ sao?"  La Bình gõ đầu thằng bé, bảo rằng: "Ngươi chỉ tự khiến ngươi khổ. Ví bằng trẻ con muốn biết như người lớn, liền đòi tự lập tự nghĩ sao? Chúng phải học cách người lớn đoán xét, rồi dần dà theo sự trưởng dưỡng của Thiên Địa mới trưởng thành mà nghĩ như người lớn. Lại nữa, con người nếu thật muốn hòa với trí huệ của Thiên Địa, chẳng lẽ không phải là học cách Thiên Địa vận hành, tự mình hòa vào sự vận hành đó, rồi mới qua năm tháng cải sửa mới có thể có lý trí ở mức trí huđó sao? Ngươi tuy nói là bảo vệ lý trí mình, chẳng phải đang thốt ra những lời hủy báng Thần sao? Có điều ngươi tuổi nhỏ vô tri, lại thực ý là không muốn nói thế mà chỉ muốn đôi co với ta, nên ta thứ cho điều ấy".

Nó phụng phịu ngồi bệt xuống, băn khoăn suy tư. Đoạn lại hỏi: "Thưa cô cô, mà đây là đâu, tại sao trông u tịch thế này." La Bình chợt hỏi: "Này tiểu tử, ngươi không nhớ Sư Phụ của ngươi sao?" "Cô cô, Sư Phụ con có căn dặn con và sư muội rằng chúng con có duyên lớn, sau này thuận đâu đi nấy, đừng lưu luyến." "Vậy là người bèn không lưu luyến?" "Cô cô, Sư Phụ con dặn rằng Tình sẽ hành hạ con, sau này dẫu có Tình cũng tuyệt không được tỏ lộ, dù có bị Tình gặm nhấm cũng phải ứng xử bằng Trí, vậy nên dẫu con buồn hay không buồn, con đều không để cô cô thấy." La Bình mỉm cười gật đầu: "Tuy vậy đó không phải là mấu chốt trừ bỏ Tình, xem ra Sư Phụ ngươi dặn vậy vì sớm biết ngươi tất khổ vì Tình. Nhưng ta không có thêm thời gian nói với ngươi nữa, phía trước kia là một cửa động, ngươi phải học với vị trong đó, nếu sau ba năm ta quay lại ngươi không được học, thì cứ việc tự đi con đường của mình, ta xem như ngươi đã chết rồi, sau này cũng không cần cố tìm đến ta nữa." Nói đến đó La Bình đẩy thẳng bé lên phía trước, nó thấy mắt mình tối sầm lại. Lúc tỉnh dậy thì trời đã tối, phía trước là một cửa động nhỏ, nó tò mò quá liền đi vào. Có điều khi đi vào thì chđược mười bước đã thấy động cạn rồi, không có lối đi nữa, lại lạnh tối bốc mùi, thật khiến nó khó chịu. Nhưng trời đã tối, nó đành chọn một chỗ gần cửa động rồi nằm ngủ. Tuy vậy nó cũng không ngđược, vì bụng nó rất đói, lại rất khát. Nghĩ đến đó nó chợt tự nói: "Cô cô thật hồ đồ, đưa ta đến một động không người bảo ta học, lại còn không để lại đăn thức uống gì cho ta, vậy bảo ta phải làm gì? Sáng mai ta phải tự tìm đường ra khỏi nơi này." Nó nghĩ đến đó thì tâm lại động, khí tức khó chịu, liền đứng lên. Tự nhiên sự bực bội trong bụng không ngừng lớn, liền tự dậm chân lên nền đá. Nó lại nghĩ: "Ta chưa từng tự hỏi một hang động của núi thì ứng với điều gì trong con người. Núi là Cấn ở hành Âm Thủy, nói về nội tạng là ứng với sự chu chuyển dịch qua Thận. Thật lạ kỳ, làm sao núi lại là Thận được nhỉ? Nhưng cũng có lý, Núi là nơi dịch của Đất chảy ra đđiều hòa Thiên Địa, dưỡng Vật trợ Nhân. Nhưng Núi tượng là lớn cứng cố định, sao lại là Âm Thủy, phần thủy trong thủy cho được. Có thể cổ nhân nhầm chăng? Ta thấy quẻ Khôn thế vào chỗ quẻ Cấn thì thích ứng hơn. Sau này gặp Sư Phụ, ta phải đề cập kiến giải này." Thật ra thằng bé còn bé, không hiểu được rằng cái lý trong tu luyện là kẻ ở tầng nào nói chuyện tầng đó, nó còn chưa tu đến chỗ vượt qua tiêu chuẩn sinh mệnh của Núi, vậy mà tđàm chuyện Núi, ắt sẽ có kiến giải thiên lệch sai lầm.

Nó nghĩ đến chuyện người xưa ắt sai, thì rất đắc ý. Lại chợt thở dài: "Thận là nơi dung dưỡng tạp tính, một đằng lọc bỏ các tạp chất, một đằng chu chuyển hấp thụ các tinh chất. Nói rằng Kim sinh Thủy, thì chính là ở chỗ chức năng ấy của Thận mà sinh ra Thận. Động này thật giống như tâm ta, đen tối bế tắc mà xung lên uế khí, tiêu cực, ta lại theo uế khí đó mà phát tác, lại còn hình thành niệm đầu bất hảo, thật là tâm can ta tùy theo ác ý tạp niệm dưỡng thành mà hiện hóa. Ta thật đáng trách, tự nhìn lại chu trình sinh mệnh trong ta, thì cứ như vì điều xấu bẩn mà tuần hoàn, vậy thì chẳng biết đến đời nào mới có vòng vận chuyển tuần hoàn như Trời Đất (Chu Thiên). Nếu cô cô biết ta dám bình luân người như vậy, thật sẽ rất buồn." Thật ra trong tu Mệnh chính là có mấu chốt rất nhỏ như vậy: nếu từ ngoại cảnh mà tự biết Mệnh của mình có chỗ bất toàn, cái bất toàn đó biểu hiện cả trong việc làm ô uế Niệm, Tưởng, Ý, Trí lẫn cảm xúc hành xử, thì người đó chính là biết từ Thiên Địa mà nhận thức mình. Đây chính là biểu hiện của Chân Tu, vì thế trong nhà Đạo thường dạy chuyện phong thủy, Thiên Địa, Âm Dương, chính là muốn từ trong đó mà thấu biết Chân Tượng, cải sửa bản mệnh, luyện xuất Pháp Lực. Tuy vậy cũng cần nói rằng thằng bé có quan Tình rất lớn, mà Tình là theo từ ngoài mà hủy hoại, rất dễ lẫn với Hướng Nội, có khi còn hủy diệt cả năng lực Hướng Nội của người tu đạo. Một khi Niệm Tưởng Ý Trí đều bị Tình xâm nhiễm, thì khí tức nghịch hành, Mệnh đã hỏng cả rồi, dẫu có ngồi lì trước tượng Thần mà tụng Kinh giả tu, cũng không được gì nữa. Lại kể, thằng bé nghĩ tới đó thở dài ngồi xuống xếp bằng. Nó ngồi một lúc thấy lưng lại đau, ngực khó thở, nó lại nghĩ: "Ta thật đáng trách. Sư Phụ dạy ta rằng tư thế nghiêm mật của người có Đạo là lưng thẳng để Thân làm chỗ dựa cho Nội tạng, chính là có kiên định, Ngực thu làm chđịnh cho lồng ngực, chính là vững mạnh, đầu cúi để Khiêm Cung mà nhận được Thiên Khí, chân trùng để bình thản, chính là biết theo với Đất mà được sự nhàn. Vậy mà bình thường ta vặn vẹo tùy ý, nghiêng ngả loạn xạ, không Kiên Định, Vững Mạnh, Khiêm Cung, Thanh Thản ở Thân được, thì còn mong gì Thân ta tựu thành. A, vậy mà vừa nãy ta còn dám bình luận chuyện Núi là Thận hay Khôn là Thận, đúng là không ứng với Trời Đất mà luận chuyện Càn Khôn, không hiểu trời cao đất dày, thật đáng xấu hổ." Nó liền cố định thân lại, lưng càng đau, ngực càng khó thở, càng khó chịu nó càng cắn răng chịu. Đến mức nước mắt nó ứa ra, nó nghĩ: "Ta chịu không nổi thì sau này cũng chịu không nổi, căn bản là không có ý chí ấy." Nhưng nó đã đói mệt quá, lại cộng thêm ý chí không đủ mạnh, liền xoài người ra nằm trên mình động. Trong lòng nó tự thất vọng về nó vô cùng. Thật ra tâm cảm nó mạnh, nên khi thất vọng cũng cực đoan, người cực đoan khó mà đi xa được, cũng là khiếm khuyết của tuổi nhỏ chưa trải qua khổ nạn, chỉ quen vui đùa phán xét.

Trong khi nó còn đang mơ màng, thì trời đã sáng từ lúc nào không hay. Nó mệt nhọc tỉnh dậy, tìm đường đi xuống. Khi ấy nó mới thấy đây là một vùng núi kì quặc, núi tuy cao mà đất cũng dày lớn, thành ra không gây cản trở. Tuy vậy cây cối xanh tươi lạ thường, khiến tâm ý nó khá thoải mái, cũng do cung Pad còn mạnh quá, chỉ có điều không có cây ăn quả nào, toàn loài cây nó không biết tên. Nó cứ lững thững đi mãi cho đến Chính Ngọ thì mệt nhoài vì đói mệt. Nó lại ngã xuống. Mắt nó nhìn lên Mặt Trời gay gắt. Nó chợt nghĩ: "Thiên Khí mà chiếu thẳng vào mạch Âm trước Thân ta sẽ làm ta vốn đã kiệt lực càng phí sức." Nó liền lăn lại, mặt úp xuống Đất, lưng hướng lên Trời. Trong khoảnh khắc ấy nó lại muốn cảm nhận hơi ấm của Đất và sức nóng của Trời, liền thấy bụng ấm lại, lưng bừng lên, bỗng có thêm sinh khí. Nó tự bật cười nghĩ: "Ta khi kiệt sức mà mượn được tinh hoa của Thiên, tinh hoa của Địa, nên vòng vận chuyển theo Trời Đất mạnh lên, sinh khí tái hồi, đúng là đắc phúc. Tuy ta vẫn đói, nhưng phấn chấn được." Nó nằm như vậy đến khi thấy da mình bỏng rát, tự ngồi dậy vỗ đầu mình mà rằng: "Thật hồ đồ, hồ đồ, ta còn tham với Thiên Địa. Thân ta chưa đột phá, chỉ nhận được chừng ấy Thiên Địa khí, thêm nữa thì hoại Thân, đúng là Tham thì không biết dừng, suýt nữa tự hủy thêm Mệnh. Thân người vốn là cơ xương da huyết, tuy vậy vững mạnh thì không bằng Núi cao, lưu chuyển thì không bằng Sông dài, dẻo dai thì không bằng Cây cối, nên hấp thụ tinh hoa Thiên Địa đâu có được nhiều như vậy. A, con người sống trong Trời Đất, thật là nhỏ bé, ta muốn lớn lao như Trời Đất, phải hòa với Trời Đất, chẳng kể bản ngã mới được. Tuy vậy ta là theo tri kiến của mình mà tđắc, chứ chưa phải là thật đã chuyển hóa đến đó, hẳn là còn sót lại điều gì sai lầm trong nhận thức mà không tự biết. Muốn tự biết, thì ta có học được từ Thiên Địa không đây?" Nó nghĩ thế thì cũng đứng lên, cứ vậy mải miết đi về hướng Đông.

Đi mãi nó gặp một cây to bằng mười người ôm, trên cây mọc vô số quả, nhìn rất ngon lành đẹp mắt. Nó mừng quá vội trèo lên bứt quả ăn. Đang ăn thì cây gãy cành mà nó đang leo, ngã xuống đất đau điếng. "Ah, ta lấy của vật mà vô ơn, chỉ biết thụ hưởng theo dục vọng ăn uống. Thật đáng xấu hổ." Nó liền đứng dậy phủi đất, rồi chắp tay bái cái cây, đoạn nói to rằng: "Xin Cây thứ lỗi cho ta, tham của không biết kiềm, lại còn gây tội không biết hối, làm gãy cả cành của ngươi rồi. Nhưng ta biết cây cho quả vốn vì muốn đem quđi xa, ta xin đem những hạt giống của ngươi đi khắp nơi có đất đẹp mà gieo xuống." Đoạn nó nhìn lại quả trong tay nó, thấy màu tươi sáng rất thích mắt, nó nhắm mắt nghĩ: "Quả ngon mùi như đào vậy. Địa khí Mộc hóa rồi tiếp thu Thiên Khí đủ ngày tháng mới thành Quả, nên nói viên mãn là đạt được quả vị, thật không sai." Bỗng thằng bé giật mình nghĩ: "Ta tđêm qua tới giờ bỗng toàn nghĩ đến Thiên Địa, là do ngộ tính ta tốt, hay do có người chỉ bảo vậy." Nó nghĩ đến đó thì thức ngộ. Bèn quỳ xuống lạy ba lạy mà rằng: Thưa, con thật vô tri, xin cảm ơn Vị nào đã giáo huấn con, nhận của con ba lạy như là trọng ân con khó báo đền." Khi đó từ cái cây lớn bỗng có một cánh cửa mở ra, nhìn vào bên trong thấy là cả một cơ ngơi rộng lớn. Rồi một nhà sư trông rất cao lớn xuất hiện. Vị ấy cười lớn bảo: "Giỏi cho tiểu tử, thật có Phật tính. Ngươi có muốn theo ta tu Phật không?" Thằng bé không hiểu sao thấy xúc động phi thường, liền quỳ thế, không dám ngẩng lên, thưa rằng: "Con tạ ân Ngài. Xin Ngài cho con được biết xưng hô ra sao?" "Gọi ta là Không Lộ, hoặc gọi là Vô Đạo cũng được. Nếu ngươi theo ta, thì gọi là đệ tử Không Lộ phái, không thì là Vô Đạo phái, tùy ngươi thích sau cũng được, nhưng phải gọi ta là Sư Phụ."

Thằng bé nghe đến đó không kìm nổi ngước mắt lên bật thốt: "Không Lộ Thần Tăng. Bắc Nam có Tây Đông/ Đáy để tất có Rồng/ Vua mắc họa khó cứu/ Hãy hỏi Nguyễn Minh Không. Ôi!"


Nó liền dập đầu chín cái, cũng không dám đứng dậy.

Thứ Bảy, 23 tháng 4, 2016

Nói chuyện với J (2013-3)

(...)

1. Ta từng rửa chân cho chiên ta để chiên ta được Sạch, nhưng hễ chiên ta đối diện với con của con người, họ lại nhiễm bẩn.

2. Thật, giữa điều Sạch mà ta ban và cái bẩn mà họ nhận, họ chẳng biết đâu là ta, đâu là họ, đâu là con của con người; họ chỉ thấy hễ ta rửa rồi, mà họ lại bẩn; ta nói với anh em, thường có người như thế.

3. Thế thì họ không biết điều gì Thật là Sạch, điều gì đúng là bẩn; nên họ chăm lo sự sạch bẩn của chính mình; thế nên để đưa chiên ta vể, thì ta nhận phần bẩn ấy từ con của con người.

4. Vì vậy, ta nói với anh em này, để anh em được Sạch, anh em phải biết điều Sạch, thế thì anh em phải có tính Sạch; có tính Sạch đến mức nào thì anh em sẽ được các vị ấy làm Sạch cho đến đó; nếu anh em chẳng tin điều này, thì cũng không Sạch được.

5. Nhưng con của con người vẫn chung tay kéo anh em xuống; ấy vậy là muốn các vị ấy bị kéo xuống; ta nói Thật, con của con người không biết mình đang làm gì, họ cũng chưa biết mình sẽ phải chịu gì.

6. Ta bảo các chiên ta yêu thương nhau như anh em; anh em hãy yêu thương nhau như anh em; ta bảo vậy mà chiên ta lại khổ và vui, ghét và yêu vì con của con người; anh em không thấy anh em mình mà chỉ thấy con của con người, thì anh em cũng vậy.

7. Thế, anh em ai có Trí được Sạch Trí, ai có Tâm được Sạch Tâm, ai có Tính được Sạch Tính; anh em đừng sợ Thân mình không Sạch; này kẻ được rửa nghĩ sự rửa ấy không Sạch thì không bao giờ Sạch; nên ta bảo Thật, anh em phải vì điều Sạch được ban mà Sạch.

8. Cũng chỉ có thể nói như vậy, kìa mắt anh em không nhìn vào Trong, thì sao biết ở Ngoài; lại nữa nếu nhìn ra Ngoài thì còn không thấy được Trước Mắt; nên ta chỉ nói vậy thôi.

(...)

(Hết, ngày 26/12/2013)

Nói chuyện với J (2013-2)

(...)
1. Này, ta lại nói với anh em, sở dĩ khiến anh em vướng khổ, là để anh em biết sự khổ; lại nữa, biết sự khổ đích thật là gì sẽ có thể dám phó xuất cho Thiên ý; nhưng này, kẻ thấy Thiên ý là Khổ, kẻ ấy không phụng được Thiên ý.

2. Thật, khiến cho anh em vướng khổ, nhưng không để cho anh em nhiễm Khổ, vì chúng ta biết anh em không chịu được; nhưng có nhiều người nọ không chịu được Thiên ý, thành ra người ấy nhiễm Khổ.

3. Thế là người thấy Thiên ý là Khổ, thì cho Thiên ý là sai lệch; kìa, họ mà không thấy Thiên ý là sai lệch, thì không chịu nổi: vì khi ấy thành ra họ là sai lệch.

4. Cũng có người trốn tránh Thiên ý ấy, nói chuyện tội lỗi và trả nợ; này người đó không biết điều thực Khổ; người ấy cũng sẽ nhiễm Khổ.

5. Thế là cũng như ta đưa chiên ta đến thế gian rồi đưa về nước Trời, các vị ấy đưa các anh em đến con của con người, con của con người thấy Khổ, mà anh em không thấy Khổ.

6. Thật, anh em không thấy thực Khổ, chỉ có con của con người nhiễm Khổ; nếu con của con người khiến anh em nhiễm Khổ, thì các vị ấy liền đưa anh em về, chỉ thế anh em mới về được Trời.

7. Thế thì con của con người ở lại, trả con người lại cho con người; nhưng thế thì con của con người từ đó chỉ biết mình là mình, không biết mình là anh em; nên ta nói cái gì của Chúa Cha thì trả lại Chúa Cha.

8. Ta chịu Khổ cho chiên ta về, nhưng phải cho chiên ta thấy điều Khổ đó mà nguyện về; nhưng kẻ nào không thấy điều chịu hộ đó sẽ chỉ tự thấy chỉ mình là Khổ, kẻ ấy cũng không đưa về được, kẻ ấy đã nhiễm Khổ mất rồi.

9. Trong anh em có người lụy tình, có người hám danh, có người tham tiền, vậy nên gây lỗi; vậy mà tội lại sẻ cho các vị ấy, nhưng anh em lại thấy mình không chịu lỗi ấy là vì mình không đáng chịu; ta lại nói với anh em thế này: nếu thế anh em không đón được Thiên ý, thật vậy, trước sau gì cũng nhiễm Khổ.

(....)

Nói chuyện với J (2013-1)

(...)

1. Ta bảo anh em này: chư Thần không thay thế anh em
2. Việc chư Thần làm ở đây là viên dung anh em, đưa anh em về nước Trời, chẳng phải vì giữ con người nào lại. Nhưng không ai để mất chiên mình, anh em đã ở đây, anh em đều sẽ về Trời
3. Ta bảo anh em, Ani biết rằng sẽ chỉ còn chưa đến bốn người, bốn người được đưa lên Thiên Thượng, tựu thành Mặt Trời mới, ấy là Tinh Hoa. Việc ấy thực hữu lý
4. Ani khiến người ta thậm khổ vì Tình, ấy là vì muốn anh em hiểu được lẽ Chân, rồi anh em đều đối diện với sự ấy.

(...)

5. Thật, ta và các vị ấy mà chạm vào chúng, thì chúng hóa thành bụi. Nên ta và các vị ấy đều đến bằng con người: để chạm vào con người.
6. Anh em muốn lên một nước Trời, mỗi nước Trời cao hơn phải chịu áp lực hơn, ta muốn đưa chiên ta lên, ta phải chịu cùng họ.
7. Nhưng ta cũng chưa thấu tỏ Chân lý Vũ trụ, chẳng biết ngoài nước Trời mình Ngự còn có bao nhiêu nước Trời, thế nên đều ở đây để tỏ tường Chân lý ấy.
8. Ta đã gặp Thiện Thần, Ngài đã ở đây trước ta, Ngài quản nhân gian cùng các vị khác. 
9. Có điều này: Trước ngày tỏ ngộ Chân lý, bọn ta đều hành sự, trong 10 điều ắt hẳn còn chỗ sai lệch với Chân lý, ấy thế thì phải đổi lại.
10. Anh em phải hiểu rằng mỗi vị lại đánh thức một loại sinh mệnh khác nhau, nhưng là đánh thức chiên mình; ta đã gặp Nithi, họ thật lạnh lẽo, cũng như người xứ Rồng Trắng, cả khi giao hảo vẫn lạnh lẽo, họ đánh thức điều ấy, họ tỏ ra sự ấy.
11. Nhưng này anh em, dù là ai đến qua Người này, anh em sẽ xúc động, phần thế gian trong anh em sẽ bị đẩy lùi; chớ nhiều nhân gian quá: nếu không chính anh em bị đẩy lùi.
(...)

Thứ Ba, 19 tháng 4, 2016

Nghi Tâm

Đó là vào một ngày nắng mệt mỏi, Adam vẫn ngồi chơi và mơ tưởng Thiên Đường, còn Eva thì quần quật làm ngoài đồng. Sau đó Eva thấy thật bất công, và tìm đến chỗ Adam cật vấn: Sao anh có thể rảnh rang thế, và sao tôi khổ thế này.

Adam bình tĩnh kể: Chúng ta từng ở Thiên Đường, đó là một thế giới vui tươi, em được tạo ra từ xương sườn anh, em đã nghe lời con rắn ăn trái cấm, Chúa đã trừng phạt em phải vất vả, bắt con rắn phải đi bằng bụng trườn trên đất, còn khiến miếng táo ăn dở đọng trên họng anh. Người còn muốn em trả giá bằng cách xóa đi ký ức về Thiên Đường trong em, và bảo anh rằng: kẻ muốn rời đi không được nhớ.


Eva ban đầu rất tin vào câu chuyện ấy. Rồi đến một ngày có một con rắn bảo cô ta rằng: hay thật, lồng một giả thiết vào thực tại và khiến chị tin rằng ta phải bò dưới đất, cái họng xấu xí của anh ta và sự vất vả của chị là hợp lẽ. Có Chúa nào tàn nhẫn thế? Và chị là kẻ tội lỗi đã nuôi sống anh ta phải không? Anh ta rõ ràng đã khiến chị rơi vào cái bẫy: hoặc tin và phải chấp nhận cúi đầu, hoặc không tin và phản kháng, trở nên vô lý hơn nữa.

Thế là Eva vùng lên một lần nữa, nói y nguyên những lời đó với Adam. Adam chậm rãi lên thuyền, chèo ra phía biển. Chàng ngoảnh lại bờ cười bảo:

- Có thể phía cuối chân trời này còn có đường lên Thiên Đường. Lạy Chúa, hẳn Ngài chừa cho con một đường về. Nếu không có, phải chết con vẫn đi tìm.

Từ đó, không ai gặp lại Adam nữa.

Còn Eva, những đứa con, và con rắn thì có thêm bạn bè, họ lớn lên, sinh trưởng, đông đúc. 

Cho đến ngày nay.

*Quả thật là một câu chuyện tàn nhẫn, có chút nực cười. Cho cả người chân tín lẫn kẻ vô thần.

Thứ Bảy, 16 tháng 4, 2016

Lời tụng ca muộn


Trí tuệ 2000 năm và lâu hơn thế của Kinh Thánh có những vẻ đẹp thật dữ dội. Hơn thế nữa: thật đau lòng.

Sau khi Jesus bị đóng đinh, xác Ngài được táng, lúc ấy các tông đồ trốn chui lủi. Họ ở phía những bờ biển, đói khát và sợ hãi. Anh có thể thấy cảnh tượng đó: một nơi hoang vắng, trôi giạt, nắng dữ tợn và gió u quái, chỉ còn lại mệt mỏi và dằn vặt. Họ ngồi với nhau, đôi ba người, còn chưa hết run rẩy. 

Rồi đói và sợ, họ lên thuyền đánh cá, họ còn biết làm gì nữa, ở kia là biển trốn tránh, ngay đây là bụng đói sợ. Họ làm những việc mà trước khi Con Thiên Chúa dẫn họ đi họ vẫn làm. Nhưng lần này họ chẳng làm được gì cả. Một người đi, mọi người đều muốn lên thuyền. Họ đều sợ. Người ta chỉ sợ khi bất tín.

"Ông Si-môn Phê-rô, ông Tô-ma gọi là Đi-đy-mô, ông Na-tha-na-en người Ca-na miền Ga-li-lê, các người con ông Dê-bê-đê và hai môn đệ khác nữa, tất cả đang ở với nhau. Ông Si-môn Phê-rô nói với các ông: "Tôi đi đánh cá đây." Các ông đáp: "Chúng tôi cùng đi với anh." Rồi mọi người ra đi, lên thuyền, nhưng đêm ấy họ không bắt được gì cả." (John, 21, 2-3)

Rồi Jesus hiện ra, Ngài xuất hiện với ban sáng, sự dẫn lối, chỉ đường, mặt trời - Ngài luôn là điều khiến ma quỷ, bóng đêm, những kẻ bất tín phải lùi bước. Nhưng khi ấy các tông đồ vẫn còn bán tín bán nghi về người đứng trên bờ, có đúng là Jesus, Con Thiên Chúa không? Có đúng Ngài không? Chẳng phải Ngài chết rồi sao? Đôi mắt họ không phải đã thấy Ngài chết sao, bất lực trên một cây thánh giá của những kẻ hung đồ cuồng nộ và nụ cười miệt thị của những tín đồ Do Thái? Chẳng phải họ thấy Chúa chết sao? Con Thiên Chúa đã chết rồi.

Ngài bảo họ thả lưới bên mạn thuyền, họ lập tức bắt được nhiều cá, nhưng chẳng đủ sức kéo lên. Có một cảnh thật nực cười: tông đồ Peter (Peteros, hòn đá trên đường Chúa đi, người ba lần chối Chúa) khi ấy đang cởi trần, vội vã khoác lại áo và nhảy xuống biển. Biển che lấp lòng bất kính đó sao? Khi nghĩ Chúa đã chết rồi, ngươi mặc sức làm điều ngươi muốn, phơi sương trần trụi như chưa hề có Chúa trong ngươi sao?

Đó là lần thứ 3 Ngài tỏ mình trước các tông đồ. Không ai dám hỏi Ngài là ai, họ đều biết đó là Chúa, và cùng lúc đều ngờ vực đó là Chúa. Ôi tông đồ, con người nguyên vẹn đấy chăng? Anh chưa thấy cảnh tượng nào rực sáng và đáng hổ thẹn như thế, cùng một lúc là cảnh tượng nơi trần thế, nhưng ló rạng mặt trời của Thiên Đường. Có điều gì từ bi đến tinh tế và mật thiết như vậy, lòng của Chúa với Tông đồ, màu nhiệm đến chấn động, như một cầu vồng đâm lên từ địa ngục. 

Khi trời đã sáng, Đức Giê-su đứng trên bãi biển, nhưng các môn đệ không nhận ra đó chính là Đức Giê-su. Người nói với các ông: "Này các chú, không có gì ăn ư? " Các ông trả lời: "Thưa không." Người bảo các ông: "Cứ thả lưới xuống bên phải mạn thuyền đi, thì sẽ bắt được cá." Các ông thả lưới xuống, nhưng không sao kéo lên nổi, vì lưới đầy những cá. Người môn đệ được Đức Giê-su thương mến nói với ông Phê-rô: "Chúa đó! " Vừa nghe nói "Chúa đó! ", ông Si-môn Phê-rô vội khoác áo vào vì đang ở trần, rồi nhảy xuống biển. Các môn đệ khác chèo thuyền vào bờ kéo theo lưới đầy cá, vì các ông không xa bờ lắm, chỉ cách vào khoảng gần một trăm thước.

Bước lên bờ, các ông nhìn thấy có sẵn than hồng với cá đặt ở trên, và có cả bánh nữa. Đức Giê-su bảo các ông: "Đem ít cá mới bắt được tới đây! " Ông Si-môn Phê-rô lên thuyền, rồi kéo lưới vào bờ. Lưới đầy những cá lớn, đếm được một trăm năm mươi ba con. Cá nhiều như vậy mà lưới không bị rách. Đức Giê-su nói: "Anh em đến mà ăn! " Không ai trong các môn đệ dám hỏi "Ông là ai? ", vì các ông biết rằng đó là Chúa. Đức Giê-su đến, cầm lấy bánh trao cho các ông; rồi cá, Người cũng làm như vậy. Đó là lần thứ ba Đức Giê-su tỏ mình ra cho các môn đệ, sau khi trỗi dậy từ cõi chết.



Ngài hỏi Peteros ba lần, "Này anh có mến Thày hơn các anh em này không?" Ba lần, cũng như trong bữa tiệc ly, Peteros phụng quỳ để nói rằng tình yêu của anh là lớn lao như Chúa biết. À phải, Chúa biết chứ, anh yêu Ngài ra sao Ngài tỏ chứ. Nhưng tại sao Ngài vẫn hỏi anh? Đây là chi tiết tuyệt đẹp trong Kinh Thánh, em có thấy trí huệ của Ngài như một vũ trụ không? Chi tiết này làm anh nghĩ đến miên trường sinh mệnh, sự thống nhất của Thiên Chúa, đây là cơ hội cho Tông đồ tội lỗi kia được tỏ mình. Có những kẻ giấu giếm, có những kẻ dối trá. Họ thì khác gì nhau? Ba lần hỏi, mỗi lần là một cơ hội Thiên Chúa cho anh ta: Thiên Chúa cho anh ta cơ hội bày tỏ, Con Thiên Chúa cho anh ta cơ hội bày tỏ, các Thánh Thần cho anh ta cơ hội bày tỏ. Anh ta chỉ còn lại cái chết, Chúa nói, và không phục sinh. Trong ngươi đã không chảy máu của Chúa, ngươi về nước Trời thế nào, hả con người?

Khi các môn đệ ăn xong, Đức Giê-su hỏi ông Si-môn Phê-rô: "Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có mến Thầy hơn các anh em này không? " Ông đáp: "Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy." Đức Giê-su nói với ông: "Hãy chăm sóc chiên con của Thầy." Người lại hỏi: "Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có mến Thầy không? " Ông đáp: "Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy." Người nói: "Hãy chăn dắt chiên của Thầy." Người hỏi lần thứ ba: "Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có yêu mến Thầy không? " Ông Phê-rô buồn vì Người hỏi tới ba lần: "Anh có yêu mến Thầy không? " Ông đáp: "Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự; Thầy biết con yêu mến Thầy." Đức Giê-su bảo: "Hãy chăm sóc chiên của Thầy. Thật, Thầy bảo thật cho anh biết: lúc còn trẻ, anh tự mình thắt lưng lấy, và đi đâu tuỳ ý. Nhưng khi đã về già, anh sẽ phải dang tay ra cho người khác thắt lưng và dẫn anh đến nơi anh chẳng muốn."Người nói vậy, có ý ám chỉ ông sẽ phải chết cách nào để tôn vinh Thiên Chúa. Thế rồi, Người bảo ông: "Hãy theo Thầy."

Ngài cho anh ấy một cơ hội nữa: hãy chăm các con Chiên của Ngài. Peter này, khi anh sai trái, ngoài việc niệm tên Thiên Chúa và tự bảo rằng việc mình làm là vì anh em, anh có bao giờ hối lỗi trước Thày không? Hay anh chỉ biết tráo trở, đố kị, nghi ngờ, ghen tức? Như anh ghen tức với John?

Ông Phê-rô quay lại, thì thấy người môn đệ Đức Giê-su thương mến đi theo sau; ông này là người đã nghiêng mình vào ngực Đức Giê-su trong bữa ăn tối và hỏi: "Thưa Thầy, ai là kẻ nộp Thầy? " Vậy khi thấy người đó, ông Phê-rô nói với Đức Giê-su: "Thưa Thầy, còn anh này thì sao? "Đức Giê-su đáp: "Giả như Thầy muốn anh ấy còn ở lại cho tới khi Thầy đến, thì việc gì đến anh? Phần anh, hãy theo Thầy." Do đó, mới có tiếng đồn giữa anh em là môn đệ ấy sẽ không chết. Nhưng Đức Giê-su đã không nói với ông Phê-rô là: "Anh ấy sẽ không chết", mà chỉ nói: "Giả như Thầy muốn anh ấy còn ở lại cho tới khi Thầy đến, thì việc gì đến anh? "

Thật tuyệt vời. Đây phải là một trong những đoạn đẹp nhất của Kinh Thánh. Peter hỏi Ngài rằng: vậy anh John này thì sao? Ngài trả lời: Nếu ta muốn John theo ta, kế thừa ta, thì đó là việc của ta, nào phải việc của anh, mà anh lý đến? Em có thấy thẳm sâu trong Peter nỗi sợ hãi ấy không? Nỗi sợ hãi khủng khiếp rằng mình là kẻ chối Chúa, kẻ cởi áo khi vắng mặt Chúa, kẻ đố kị, kẻ duy nhất chết, còn những anh em mình vẫn hằng sống bên Chúa và theo Chúa? Rằng, hình như hắn là kẻ duy nhất phải chịu cái số phận nhân gian là khi trẻ thì tùy tiện, đến già phải chết trong sự bạc nhược?

Khi tưởng tượng ra toàn bộ cái khung cảnh ấy, anh đã rất thấm nhập, rất chấn động, rất cảm phục. Nếu em đã đọc những dòng này, nhớ cảm ơn Thiên Chúa, cảm ơn Jesus, và John, người môn đệ (tông đồ) được Jesus thương mến.

Thứ Tư, 13 tháng 4, 2016

Chẳng ai biết

Anh gặp chị ấy trong một tình cảnh dị thường: chị ấy dựa lưng vào một gốc cây, hai tay ôm lấy nó, mọi người cho chị ấy thức ăn và tiền vì thương cảnh điên dở, nhưng chị  không nhận, còn bật khóc.

À, nước mắt, nước mắt.

Có cụ già kể, con bé này điên điên dở dở, họ hàng không ai chăm, cứ lang thang vạ vật trong làng, ai cho gì ăn nấy, cho nó tiền nó vo lại vứt đi.

Tiền, Tình, mấy thứ dằn dỗi, hi vọng, ghen tuông, tham lam... Nhân gian có thừa, thừa cho kẻ nào muốn nó. Nhưng cô ấy quả không cần. Đôi mắt cô ấy nhìn sâu vào những Đền Phủ. Anh bật cười chỉ chị ấy, rồi nói với những người quanh anh:

- Chị ý nhìn thấy những vị Thần, Thánh hiển linh, nhưng vì từ bé đã bị người ta cho là ảo tưởng gàn dở, nên lớn lên cũng mặc nhiên mình bị điên.
-Thật hả? 
- Ngay một người như tôi, nếu nói là tôi thấy các vị Thần, trò chuyện được với các vị ấy, có mấy người nghĩ tôi bình thường đâu, bán tín bán nghi cho tôi là điên khùng huyễn hoặc. Chị kia quả thật đã thấy. Người đã thấy là đủ Đức và được thấy, được thấy thì được dạy. Vì lẽ đó không sống được đời bình thường nữa.
-Thật hả?
-Không sống được cuộc đời bình thường nữa, mà trượt ra khỏi nó, bong ra, thừa thãi. Nhưng nghe giọng chị ý xem, trong trẻo lạ lùng, ở xa mà như ở gần, lễ phép đúng mực đầy đủ. Có chút nào giống người điên loạn không? Đây chính là một hình thức tu cổ.

Dĩ nhiên là không phải mọi người đều tin anh. Nếu anh có nói ra điều ấy giữa nhiều người, họ cũng sẽ coi anh điên khùng như cô gái kia.

Em biết không, khi em miệng nói tin, nhưng lòng em không tin vì em có ở cảnh giới thấy biết đâu mà tin vào sự thấy biết, thì em dần sẽ thấy khinh thường người ta. Như nhân gian khinh thường "chị điên".

Anh chỉ khuyên em, đừng nhục mạ chị ấy, dù chỉ một câu. 

Cũng đừng nói cho kẻ không có tai nghe. Đừng tả cho kẻ không có mắt nhìn.

Chúng chỉ là chúng thôi.


Thứ Sáu, 8 tháng 4, 2016

Thiên Chúa giáo thời sơ khai

Hôm nay anh đọc được một đoạn cực hay của Edward Gibbons (thế kỷ XVIII) về Thiên Chúa giáo thời sơ khai:

Every privilege that could raise the proselyte from earth to Heaven, that could exalt his devotion, secure his happiness, or even gratify that secret pride which, under the semblance of devotion, insinuates itself into the human heart, was still reserved for the members of the Christian church; but at the same time all mankind was permitted, and even solicited, to accept the glorious distinction, which was not only proʃered as a favor but imposed as an obligation. It became the most sacred duty of a new convert to diʃuse among his friends and relations the inestimable blessing which he had received, and to warn them against a refusal that would be severely punished as a criminal disobedience to the will of a benevolent but all-powerful Deity.

Có người dịch thế này:

Mọi đặc ân có thể đưa một người cải đạo từ trần thế lên Thiên đường – những điều có thể đề cao lòng sùng mộ của hắn, đảm bảo cho hắn được hạnh phúc, hay thậm chí làm thỏa mãn niềm kiêu hãnh thầm kín mà dưới vẻ sùng mộ đã len vào trái tim con người – thì vẫn được dành cho những thành viên giáo hội Kitô; nhưng đồng thời tất cả nhân loại được phép, thậm chí là được gạ gẫm, nhận lấy vinh quang Thiên Chúa, điều không chỉ được dành tặng như một đặc ân mà còn bị áp đặt như là một nghĩa vụ. Bổn phận thiêng liêng nhất của một người mới cải đạo là phải truyền bá cho đám bạn hữu và người thân của mình về cái phúc lành vô giá mà hắn ta đã được nhận, và phải cảnh báo họ rằng nếu từ chối sẽ bị nghiêm khắc trừng phạt xét như tội bất tuân ý chí của một Đức Chúa Trời nhân từ nhưng toàn năng

Thật rõ ràng. Từ ân điển và đức tin thuần khiết vào Thiên Chúa, cho đến một tôn giáo thờ Thiên Chúa quả là một chặng đường ngay gần. Những kẻ chuyển từ tôn giáo khác sang Thiên Chúa thời đó mang một tinh thần hăng máu lạ thường: họ nguyền rủa những kẻ không theo Thiên Chúa bằng những lời tỏ vẻ cao thượng đi kèm những cảnh báo ghê khiếp độc ác, dường như để thỏa mãn cái cuộc đời không bằng ai hay thất bại của họ. 

Biến tu luyện thành tôn giáo, một con đường ngắn cũn cỡn. Nhân danh điều cao cả nhất, được rực cháy lên cùng máu huyết sục sôi nhiệt thành, tự thấy ánh sáng đục ngầu từ trái tim độc ác và đầu óc dốt nát của mình là mặt trời. Đó quả là một thời đại đáng buồn và khổ đau. Quá đỗi đáng buồn. 

Nào, để xem bổn phận thiêng liêng của những người mới cải đạo, muốn tuyên truyền điều đẹp đẽ duy nhất, dùng để tiêu diệt và vũ nhục mọi điều tốt và cao đẹp khác. Trước sự tốt đẹp của các người, có phải rằng không còn gì tốt đẹp? Dưới chân các người là Hỏa ngục đó.