Phẫn Nộ Đại Tôn Giả

Phẫn Nộ Đại Tôn Giả

Thứ Bảy, 30 tháng 12, 2017

Phù Vân, Sứ mệnh, (05)

Khi Duy Hựu nhìn thấy bạch viên, lúc đấy tâm trạng vừa thoát ra khỏi một không gian, thực ra giống như kiểu người vừa tỉnh giấc. Duy Hựu trở về từ Linh giới cùng với sư tỉ, đấy là một đoạn hẫng khiến cho tâm tình của Duy Hựu rất dễ kích động. Người sống xuyên giữa những thời không khác nhau, nếu sống liên thời không khác nhau, hoặc vừa tách từ một thời không trở về một thời không khác, thì tâm trạng của họ hết sức kích động, bởi vì các vật chất đang không đồng đều, rất hỗn loạn. Khi người ta gặp những sự kích động lớn, người ta có thể trở chiều các trạng thái.
Đối với Duy Hựu, sự phân biệt của không gian lớn đến mức không thể tưởng tượng nổi, thậm chí trong đầu Duy Hựu định hình không rõ là thực hay là mơ. Nhưng lần này thì Duy Hựu nhớ chứ không quên như lần cùng sư tỉ trở về từ Linh giới. Lúc đấy đầu óc Duy Hựu đang còn một độ băn khoăn, nhìn xung quanh và nhìn mọi thứ, rồi thấy đám bạch viên, quả nhiên trông có một nét gì đấy kì quặc hơn, nhất thời Duy Hựu không lí giải được. Xong Duy Hựu mới hỏi bạch viên: “Sao trông mặt ngươi lo lắng vậy?” Con bạch viên gãi đầu nói là: “Sơn Chủ, chúng ta không xong rồi!” Duy Hựu nói: “Các ngươi có hết vũ khí rồi, sao lại không xong được?” Con bạch viên đáp: “Từ lúc Sơn Chủ đi thì ngày ngày tháng tháng, cứ đến tuần đến tháng là lại có lực lượng công kích của vị lần trước, ngày càng dữ dội. Cho nên là toàn bộ không gian này bị tổn hại rất nghiêm trọng.” Duy Hựu nói: “Tổn hại nghiêm trọng thế nào vậy? Sao các ngươi có vũ khí như thế có thể dọa được hắn, có vũ khí nhiều hơn hẳn thế mà không thắng nổi hắn?” Con bạch viên lại đáp: “Không hiểu sao mọi vũ khí lấy ra khỏi không gian đấy thì lập tức bị vô hiệu hóa, đều mủn ra gần hết, chỉ có một số còn có tác dụng.”
Lúc này Duy Hựu mới nhìn lại bạch viên, thấy trên đầu nó đội mũ sắt, trên người mặc một bộ giáp rất kì lạ, có rất nhiều nút xanh đỏ tím vàng, đủ các màu khác nhau, ánh sáng lấp lóe. Duy Hựu hỏi: “Ngươi mặc đồ gì vậy?” “Sơn Chủ, đây là chiến giáp.” Duy Hựu liền nổi tính trẻ con, lại bảo: “Có bộ nào vừa ta không?” Con bạch viên nói: “Có! Có!”, rồi liền dắt Duy Hựu lên một cái đỉnh. Duy Hựu thấy là đám bạch viên hóa ra vô cùng đông. Duy Hựu nhìn thấy ở bên dưới khoảng đến hơn bảy đến mười nghìn con, chúng đắp những chiến lũy rất lớn và hình thành những khu vực. Lần này Duy Hựu mới nhìn lại toàn bộ vùng núi một lần nữa, thì mới thấy nó giống như là một pháo đài được xây dựng ở trên khu vực đấy, từng phòng ốc, tất cả cơ quan, mọi thứ đều rất cẩn mật, nhưng bầu trời không hiểu sao đã đổ sang màu đen, lúc nào cũng vần vũ.
Duy Hựu ngước nhìn lên, thì bỗng nhiên trên trán Duy Hựu tách ra, mở ra một con mắt màu đỏ nhìn thẳng lên trời. Duy Hựu thấy là ánh sáng đấy vừa chiếu lên trời thì cả một vùng trời bắt đầu lộ ra đủ các hình yêu quái, các hình rồng rắn, tất cả lẫn lộn ở trên vòng mây xuống. Con bạch viên bên cạnh thốt lên: “Hỏa Nhãn Kim Tinh!” Duy Hựu quay sang nói là: “Ngươi nói cái gì vậy?” Rồi con bạch viên cúi đầu thưa: “Ngài mở Hỏa Nhãn.” Duy Hựu lúc này mới để ý được quả thực là trên trán mình có một con mắt mở ra nhưng không có cảm giác gì cả. Duy Hựu chưa kịp nghĩ gì thì con mắt này liền đóng lại, không thấy đâu ở trên trán nữa.
Thực ra lúc này thân thể Duy Hựu đang được khai mở ở một mức mà Duy Hựu chưa từng biết trước đó, có điều là Duy Hựu chưa làm chủ được những khả năng này của mình một cách thực tế. Nhưng thân thể đã biến đổi rất nhiều rồi, bởi vì trong không gian đấy, khi Duy Hựu trở về thì tất cả những tâm thái theo kiểu những tâm thái của các vị Tiên, Thần chỉ còn giống như là một kí ức, nó không trực tiếp diễn hóa ở trong tâm thái Duy Hựu nữa. Không gian này thấp hơn không gian kia, nó không lưu trữ tất cả những trạng thái diễn hóa ở không gian kia. Duy Hựu lúc đấy cũng không thể nghĩ được nhiều, chỉ đang chú tâm, Duy Hựu cảm giác luồng chảy của tâm tính mình giống như là bị ai cuốn hút, không lập tức dễ khống chế và dễ hiểu như trước.
Đến lúc bạch viên đưa đến một căn phòng rộng lớn bày la liệt đầy đủ các đồ binh khí, trong đấy có một bộ giáp bằng vàng sáng lấp lánh, trông giống của bạch viên nhưng cầu kì hơn. Duy Hựu liền đến ướm thử, đội lên trên đầu một cái mũ bọc bằng vàng, chỉ để hở tai và mặt, còn lại trùm toàn bộ đầu và kéo xuống đóng chặt ở trước miệng. Khi Duy Hựu vừa đội vào thì trên mũ bắt đầu xuất hiện những hoa văn xanh đỏ, trông rất đẹp. Duy Hựu mặc một bộ giáp che ngực ở đằng trước, sau lưng để hở. Bộ giáp này vừa đính vào thân, nó liền có hai cái quai trông như hai cái còng bằng sắt, kéo từ lưng Duy Hựu xuống rồi đóng ở bên dưới hông, một bộ bao tay và bao chân nữa, và một thanh kiếm bằng vàng rất đẹp, trên có bảy viên minh châu sáng lấp lánh. Duy Hựu cảm giác rất thích mắt, liền hỏi bạch viên: “Ta cầm thanh kiếm này được không?” Bạch viên đáp: “Thanh kiếm này chính là dành cho Sơn Chủ.” Duy Hựu cầm lên, cảm thấy rất vừa vặn, bỗng nhiên có một chút hoài nghi hỏi: “Tại sao các ngươi biết ta sẽ trở về mà có đồ cho ta thế này?” Bạch viên nói là: “Không hiểu sao sau khi lấy ra thì có một bộ đồ này nguyên thừa ra như vậy, mà không ai mặc nổi, liền để ở đây. Chúng thần đoán là Sơn Chủ sẽ trở về và sẽ ngự nó.” Duy Hựu nói: “Cũng có thể vậy.”
Trong tâm tình Duy Hựu lúc này thực ra đã có rất nhiều biến đổi, thân thể thì là mười năm, thời gian cũng đã mười năm trôi qua. Đối với thời gian Duy Hựu thực sống thì chưa đến mười năm, nhưng thời gian tu luyện thực ra đã hơn rất nhiều, rất nhiều so với người thường. Có những người tu sống có thể là hàng trăm năm, hàng trăm năm chưa chắc đã tu giống như Duy Hựu đã tu. Thời gian mà Duy Hựu đã trải qua trong tu luyện là không thể đếm kể nổi, chỉ riêng một quá trình vượt chuyển thời gian 7 triệu năm đấy thì người ta tu luyện hàng trăm nghìn năm cũng không bằng. Đấy là một thời gian mênh mông vô tận, một quá trình vận chuyển thời không hết sức hung hiểm. Đến lúc này Duy Hựu hãy còn chưa biết là hung hiểm đến mức nào, nhưng tất nhiên Duy Hựu cũng đã trải qua và trong sâu thẳm vật chất của Duy Hựu đã có biến đổi.
Lại nói sau khi Duy Hựu mặc xong bộ kim giáp thì cảm thấy thân thể hết sức nhẹ nhàng. Duy Hựu liền nghĩ trong đầu: “Ta dường như có thể bay được.” Duy Hựu liền bắt đầu ngân nga trong miệng một tiếng “Om Om”, giống như hai tiếng chuông ngân vang. Bạch viên vừa nghe thấy tiếng đấy bỗng ngơ ngẩn, ánh mắt giống như lạc hồn đi. Lúc Duy Hựu vừa niệm hai chữ “Om Om” thì ở dưới chân xuất hiện hai vòng sáng hình chữ Om, Duy Hựu giẫm lên trên đấy, hai hình chữ Om bắt đầu biến thành hai vòng chân quấn chặt vào chân Duy Hựu. Duy Hựu giống như bay giữa thinh không và bay vụt lên trên bầu trời. Xong Duy Hựu nhìn lên trên bầu trời, có một con rắn rất lớn ở trên đám mây, nó tỏa ra một ánh sáng xanh lè, đôi mắt nó đỏ rực và tất cả những luồng hắc khí xung quanh nó bao tỏa. Chính nó tạo ra đám mây bao tỏa hết cả vùng núi đấy, con rắn vô cùng lớn.
Khi Duy Hựu vừa nhìn thấy, không hiểu sao trên miệng lại buột ra hét lên: “Hắc Long!” Hai tay Duy Hựu nắm chặt lấy thanh kiếm, hét lên một tiếng vang trời, toàn bộ âm “Om Ma Ni Pad Me Hum” phát ra liên tục, giống như hàng chuỗi hàng chuỗi âm thanh bắn tỏa lên bầu trời, tạo thành một kết giới xung quanh Duy Hựu, rồi bắt đầu bùng ra như một bông sen. Rồi Duy Hựu dùng hai ngón tay của bàn tay phải, niệm chú “Om Hum”, lại ấn vào trong chuôi thanh kiếm, từ chuôi thanh kiếm bắt đầu hiện ra một thái cực vừa màu xanh vừa màu trắng. Duy Hựu theo thái cực màu xanh trắng này giống như một mũi tên đâm thẳng vào con rồng, “Hắc Long!” hét lên một tiếng rất dữ dội, cả không gian bắt đầu rung động, vô vàn các loại dơi, các loại chim trông rất tà ác bay từ đám mây xuống. Thế nhưng ánh sáng của Duy Hựu đến đâu thì nơi đấy tan biến đến đấy. Duy Hựu bay vụt lên như một tia chớp, xuyên đến gần trên đầu nó. Miệng của con Hắc Long há ra, Duy Hựu bay vụt vào bên trong theo đám khói đen đấy. Duy Hựu không biết là miệng nó, chỉ thấy một đám khói đen mở ra trước mặt, liền bay vụt vào bên trong, vừa vào bên trong bỗng thấy không gian cứng đọng lại.
Duy Hựu mới định thần lại, thấy mình đang đứng trước một cửa động, trong cửa động có một người trông rất cao lớn, có thể phải cao đến gấp đôi Duy Hựu, khuôn mặt vô cùng khắc khổ, già nua, đen đúa, mặc một bộ đồ đen, ở trên ngực có một viên đá màu đen tỏa ra một ánh hắc quang trông rất kì dị. Người này đi chậm bước đến chỗ Duy Hựu, còn cách Duy Hựu khoảng độ hai trượng thì dừng lại nói: “Tiểu tử, ta biết ngươi!” Duy Hựu nhìn người này, cũng mơ hồ cảm giác là dường như mình có biết người này, liền đáp: “Ta cũng biết ngươi!” Người này cười khà khà nói Duy Hựu: “Làm sao ngươi biết ta được?” Duy Hựu nói: “Vậy làm sao ngươi biết ta được?” Người kia liền đáp: “Ngươi nói thế dường như vô lí!” Duy Hựu nói: “Ta thật không vô lí. Duyên nghiệp là có lí của nó, ta vốn biết ngươi, ngươi vốn biết ta, chính vì thế mà gặp nhau ở đây. Có điều ngươi giờ đang bao vây ở trên vùng núi thiêng, ngươi không được làm thế, ta có thể lập tức tiêu trừ ngươi. Nhưng ta cho ngươi một cơ hội, ngươi có thể rời khỏi đây.” Vị kia khuôn mặt trông bỗng động rung động, phẫn nộ, ánh hắc quang tỏa ra trông còn dữ dội hơn trước. Duy Hựu cảm giác có từng luồng như là kim châm bay từ bên phía vị ấy vào, đâm vào trong bức tường khí của mình, rụng xuống. Duy Hựu liền mỉm cười bảo: “Ngươi có phép thuật, nhưng phép thuật của ngươi hãy còn non kém, chỉ là yêu tinh từ trong sông lớn mà chảy lên. Ta khuyên ngươi sớm ngày quay trở về, bỏ đi oán hận với Trời xanh, ngươi may ra còn được cứu thoát. Ngươi vốn thuộc dòng thuồng luồng, mai này còn có thể trở thành Rồng, nhưng phải chờ thêm một nghìn năm nữa, lại chờ thêm một nghìn năm nữa, chờ người có duyên đến giúp ngươi. Còn lúc này ngươi vẫn cố ý tác oai tác quái, ta sẽ tiêu trừ không nương tay!”
Vị kia rung lắc gương mặt dữ dội, bỗng thấy gương mặt từ một người gầy gò biến thành mặt một con rồng, trên mặt con rồng này hai ánh mắt đen xì, ở trên miệng nó ngậm một hòn ngọc đen. Người này cầm một thanh quyền trượng rất to lớn, trên đầu thanh trượng cũng có hình một con rồng đen mắt đỏ, và dưới chân trượng là một hình bàn chân rồng. Người này chỉ thanh trượng đấy vào Duy Hựu nói: “Ngươi có quyền gì mà nói! Trời xanh bắt ta làm Hắc Long suốt 10000 năm, không cho ta trở thành Chính Long, cho nên ta cứ mắc cạn ở đây mãi. Ta hỏi ngươi, ta không oán Trời thì chẳng lẽ là để Trời oán ta?” Duy Hựu liền đáp: “Trời không để cho ngươi làm rồng thật chính là bởi vì ngươi không đủ Đức mà làm rồng. Để đủ Đức làm rồng ngươi phải chờ người tu luyện, gặp người tu luyện phải giúp đỡ người đấy. Giúp đỡ người đấy, thêm được một chút Thần Đức đấy mới có thể cải hóa điểm cuối cùng ở trong ngươi. Ngươi còn không biết điểm cuối cùng cần cải hóa trong ngươi là ở đâu, làm sao tự ngươi hóa thành rồng được?” Vị kia liền phẫn nộ đáp: “Vậy thì ngươi biết chăng?” Duy Hựu nói: “Ta biết chứ!”
Nói rồi Duy Hựu hét một tiếng “Om” ngân vang trong không gian, bỗng không gian đen tối của Hắc Long tỏa ra, nó bắt đầu rạn nứt ra, và những tia sáng bắt đầu chiếu vào không gian đấy. Duy Hựu tiến bước đến phía Hắc Long, Hắc Long đập cây trượng xuống, tạo ra cả một vùng quang ảnh mờ mịt phả vào phía Duy Hựu. Duy Hựu cứ bước tiếp, Duy Hựu bước đến đâu thì ánh sáng đen đúa tan ra thành hơi khói. Hắc Long nhìn cảnh đấy hết sức sững sờ, chưa kịp hết sững sờ đã thấy Duy Hựu xuất hiện trước mặt mình, đặt bàn tay lên trên trán Hắc Long. Lúc đấy Hắc Long cảm thấy rất kì dị, bởi vì thực ra Duy Hựu nhỏ hơn Hắc Long, chỉ cao bằng nửa Hắc Long, nhưng vừa đến nơi dường như đã có thể cao lớn hơn rất nhiều.
Lại nói lúc đấy Duy Hựu đặt bàn tay lên trán Hắc Long bảo: “Ngươi còn một chút Dương Đức không tựu thành, cho nên không thành rồng được, ngươi cứ làm thuồng luồng tiếp đi.” Hắc Long vừa cảm giác một luồng hơi ấm truyền từ trên trán mình vào trong thân thể, toàn bộ thân thể giống như có một sự biến đổi dữ dội, rồi cảm thấy trước ngực bỗng nhiên nở tách ra một cái, áo của Hắc Long đột nhiên rách toác ra, và từ trước ngực một cái vảy bằng vàng ròng bắt đầu xuất hiện. Nó ngày càng lóng lánh lóng lánh giống như tất cả các vảy đen trên thân thể đều bị nó làm rung động. Lúc Hắc Long vừa nhìn thấy cái vảy rồng vàng đấy, đột nhiên khuỵu xuống khóc, nói là: “Ta ở nhân gian 10000 năm, chẳng lẽ phải ở thêm 10000 năm nữa, bao giờ ta mới tựu thành được thân rồng?” Duy Hựu nói: “Ngươi chỉ việc chờ người tu luyện, lúc đấy sẽ có Thánh Đức ban đến cho ngươi, chỉ cần ngươi giúp đỡ họ là được.” Hắc Long ngửa cổ nói : “Ta cũng đã nghe lời này 10000 năm trước, có một Vị Thần Xanh Đỏ bảo ta rằng cứ chờ 10000 năm nữa, thì ta còn phải chờ đến bao giờ?” Duy Hựu mỉm cười nói: “Vị ấy nói ngươi chờ 10000 năm sẽ có người tu giúp ngươi cải hóa, chẳng phải đã gặp ta sao? Ta nói với ngươi, ngươi chỉ cần chờ không đến 1000 năm nữa, có lẽ chỉ khoảng 500 năm thôi, sẽ gặp được những người tu luyện rất lớn. Lúc đấy ngươi chỉ cần giúp đỡ họ sẽ được ban cho Thánh Đức, sẽ lập tức hóa thành rồng lớn, lúc đấy ngươi đúng là ân đức vô cùng.” Hắc Long ngơ ngác: “Thật chăng?” Duy Hựu gật đầu: “Thật! Nhưng ta cần ngươi giúp một chuyện.” Con rồng liền gật đầu, tươi tỉnh đứng lên, lúc này đã hóa thành một con rồng thật sự, không còn ở trong hình dạng thân người nữa.
 Thực ra khi nào mà vật muốn lấy thân người? Chính là bởi vì oán hận Trời, chính là bởi vì oán hận rằng nó sinh ra đã không được tu luyện, oán hận là nó sinh ra đã không được tựu thành, oán hận là thời gian đằng đẵng, thế gian mênh mông, thế nhưng nó không tìm được ai, cũng không ai cho nó có được một hình dạng cụ thể, không ai cho nó được ân điển để mà có thể biến hóa được. Nó mãi mãi là một vật thấp kém và dù nó có tiến hóa thế nào, nó cũng chỉ là một vật thấp kém của Dục giới, cho nên khi nhìn thấy cái vảy rồng vàng ở đấy, sau 10000 năm chờ đợi cũng đã có một dấu hiệu biến đổi to lớn. Để được thành một điều gì lớn lao vĩ đại là một ân điển lớn lao vĩ đại, bất cứ vật nào trong vũ trụ cũng muốn có. Đối với Hắc Long khi ấy, 10000 năm được một vảy rồng vàng đấy cũng thật xứng đáng, dù phải chờ thêm 500 năm nữa cũng chỉ như ngày qua ngày so với 10000 năm đằng đẵng trước đấy.
Lại nói lúc đấy con rồng đã hóa thành một con rồng lớn, ở trên ngực vẫn còn một cái vảy vàng rất lớn, nó đến nói với Duy Hựu: “Ngài muốn ta giúp chuyện gì?” Duy Hựu nói là: “Ta hỏi ngươi, cãi gã thư sinh mặc áo xanh (ý chỉ con rết lần trước) hắn là ai? Từ đâu đến? Làm sao có thể triệu tập được bọn ngươi?” Con Hắc Long mới nói là: “Vị này có quyền phép vô cùng, trên tay có một viên ngọc Tị Tà. Với viên ngọc Tị Tà được coi là ấn chứng của Tà giới, theo Tà giới này thì có thể gặp tất thảy các sinh mệnh mang oán hận với Trời xanh, có quyền điều chuyển tất cả các sinh mệnh có oán hận với Trời xanh. Chính tôi cũng không biết Ngài ấy từ đâu đến, nhưng khi Ngài mang ấn tín đấy đến, mang Tị Tà ngọc đến thì tất cả đều phải nghe lời.” Duy Hựu trầm tư: “Ta hiểu rồi. Vậy ngươi cứ trở về nơi ngươi từ đấy mà đến, cứ nghe lệnh ta, sau này tự nhiên có phước đức.” Hắc Long nói là: “Nhưng giờ ta trở về, Vị ấy mà đến thì ta lập tức phải đi nữa, nếu ta đến đây mà đụng độ phải Ngài thì Ngài tính sao?” Duy Hựu đáp: “Ngươi là một trong số Hắc Long hiếm hoi của cõi này. Ngươi cứ quay trở về nơi ngươi đã từ đấy đến, ta sẽ nhanh chóng giải quyết vấn đề này rồi đến gặp ngươi một lần nữa, lúc đấy lại có sự vụ giao phó cho ngươi.” Hắc Long cảm thấy được người trọng dụng, lại là người đã ban cho mình một vảy rồng vàng, cho nên cảm thấy vui sướng vô cùng, lập tức đáp: “Ta sẽ chờ Ngài!”
Trong khoảnh khắc dường như toàn bộ đám mây đen trên trời biến mất, rồi ánh mặt trời bắt đầu chiếu tỏa rạng, gần như là đối với không gian lúc đấy có vẻ như chưa bao giờ đẹp đến thế. Ánh nắng mặt trời giống như tỏa ra hào quang thất sắc, tỏa xuống ngọn núi, tất cả đám bạch viên dưới đấy reo hò dữ dội. Lúc đấy Duy Hựu từ trên bầu trời giáng xuống, bộ giáp ở trong ánh thất sắc đấy tỏa ra một ánh kim quang kì dị, hình ảnh Duy Hựu ở trên hai vòng chân có chữ Om tỏa ra giống như một luồng sáng hào quang rực rỡ, còn tỏa rạng hơn nữa, giống như là hai mặt trời đang cùng xuất hiện trên bầu trời. Khi Duy Hựu hạ xuống, tất cả đám bạch viên đều vỗ tay reo hò, đối với hình ảnh lúc đấy không khác nào một vị Thần giáng thế, vô cùng đẹp đẽ. Duy Hựu cầm thanh kim kiếm chỉ về hướng Tây nói là: “Chúng ta đi tiêu diệt hắn!” Tất cả đám bạch viên đều quì xuống, gần như không có một thắc mắc nào cả, giống như lúc này đã thật sự tìm được Minh Chủ của mình rồi.
Bạch viên hỏi Duy Hựu: “Sơn Chủ, tuy vậy chúng ta không thể đi qua được bầu trời này. Hắn không biết bằng cách nào mà đến, nhưng chúng ta thì gần như không thể đi xa được.” Duy Hựu mỉm cười nói: “Để ta nói ngươi hay, thực ra các ngươi luôn luôn sống trong một ảo cảnh.” Đám bạch viên hỏi Duy Hựu là: “Chúng tôi sống trong ảo cảnh nào vậy Sơn Chủ?” Rồi Duy Hựu nói: “Ngươi nhìn thấy những chặng cây ở phía Tây kia không? Những cành cây đấy tỏa ra một màu xanh kì dị hơn nơi khác, đây chính là hành Kì Mộc. Tại sao có hành Kì Mộc này? Kì Mộc này chính là Kì Môn, mở Kì Môn qua lại có một Cửu Cung khác. Các ngươi sống ở trong một nửa Cửu Cung, lại tưởng mình là toàn thể Cửu Cung, mà không biết là bên cạnh Cửu Cung này còn có Cửu Cung khác, cánh cửa kia chính là Kì Môn. Ngươi có biết dòng suối chảy vào đây là ở đâu ra không?” Con bạch viên này lắc đầu nói là: “Tôi cũng không biết.” Duy Hựu nói: “Bởi vì ở phương Bắc đã ẩn đi hành Giáp, cho nên gọi là Độn Giáp. Cửa Kì Môn ở phía này, Độn Giáp ở phía kia thì tất nhiên ở phía kia có một bí mật nữa. Nhưng ngươi phải biết là có hai ngọn núi, ngọn núi này giống hệt ngọn núi phía bên kia. Hai ngươi đều sống giống hệt không gian ở bên nhau, chỉ vì ngươi không dám tiến qua không có nghĩa là ngươi không thể tiến qua được, có điều cần một phép thuật rất lớn khai mở phương ấy. Chính là xưa kia vị màu xanh đấy có khả năng mở cánh cửa này mà sang đây.” Bạch viên lại hỏi: “Ngài dường như đã biết hết cả mọi bí mật?” Duy Hựu gật đầu nói: “Ta không hiểu sao mà đã biết hết mọi bí mật. Thế nhưng phía bên kia là một điều vô cùng hung hiểm, có lẽ nếu như cùng ta sang phía bên đấy, trong các ngươi không có một ai trở về thì sao?” Tất cả đám bạch viên nhìn nhau, khuôn mặt biến sắc nói là: “Sao lại không có ai trở về thưa Sơn Chủ? Chúng ta có vũ khí hùng mạnh vô cùng, Sơn Chủ chỉ cần mở cánh cửa đấy, chúng tôi sang bên đấy nhất định sẽ có cách tiêu diệt hắn.”
Duy Hựu lắc đầu, mỉm cười nói: “Nếu theo ta mà tất cả các ngươi chết hết cả, các ngươi có theo không?” Đám bạch viên lại ngẩn ngơ, nhưng nhớ lại hình ảnh Duy Hựu từ trên trời giáng xuống, xua tan đám mây ở trên bầu trời nhiều ngày. Nên nhớ là khi Hắc Long ở trên đấy thì mỗi ngày đều tản xuống mưa độc, lông của đám bạch viên đã bị khoét hết tất cả, giống như là bị hoen rỉ ở bên trong, giống như là độc đã ăn vào thân thể, lở loét trông rất kinh khủng. Nhưng từ lúc Duy Hựu xua tan đi Hắc Long, không hiểu sao lở loét bỗng biến mất. Đối với lòng bọn bạch viên mà nói, thì cảm giác điều đấy giống như là ân điển do Thần ban, hết sức thiêng liêng. Nhưng lúc Duy Hựu nói đến điều đấy, bỗng nhiên cảm ngộ, bởi vì đã hưởng ân điển rồi thì trong tâm cảm người ta luôn luôn có một vật chất hướng đến ân điển. Hơn nữa nên nhớ là bọn bạch viên này tuy quần thể đông, thế nhưng lại không hề tiếp xúc với xã hội, không cấu thành một xã hội rộng lớn, cũng ít tính tranh đoạt với các xã hội bên ngoài, do đấy tâm tính của chúng còn rất thuần khiết. Cho nên khi nghe Duy Hựu động viên như vậy, tất cả bỗng cảm thấy có gì đấy hào hùng ở trong nổi lên, tất cả liền giơ cánh tay lên nói là: “Nguyện theo Sơn Chủ!”, cái tiếng đấy ầm ầm cả một cõi.
Lúc đấy đã là nửa đêm rồi, Duy Hựu nói là: “Các ngươi nên đi ngủ, sáng mai chúng ta sẽ đi.”
Duy Hựu trở về căn phòng của mình. Có một điều mà Duy Hựu và đám bạch viên cùng không để ý, không gian của Duy Hựu và đám bạch viên vốn không có ngày và đêm, nhưng từ lúc đẩy được Hắc Long, từ lúc Duy Hựu trở về dường như đã bắt đầu có ngày và đêm. Đây là một điều tự nhiên diễn ra, vốn là rất khác thường và đáng lẽ đám bạch viên phải ý thức được, thế nhưng mối lo về cuộc chiến với vị thanh niên áo xanh, cùng với ân điển của Duy Hựu đã chữa lành mọi vết thương khiến cho đầu óc chúng dường như đang ngơ ngẩn không biết mình thuộc về đâu, không để ý rằng lần đầu tiên trời đã xâm xẩm tối. Thực ra gọi là đã về đêm cũng được, bởi vì so với mức bình thường của không gian này thì nó đã trở nên tối thẫm rồi.
Khi Duy Hựu trở về phòng, ngồi trên giường bạch ngọc, bỗng nhiên có một suy nghĩ kì lạ: “Chuyến này ta đi, liệu nếu không trở về thì có thể gặp được sư tỉ không?”, nghĩ thế bỗng bất chợt mỉm cười. Lúc đấy Duy Hựu cảm thấy trên thân thể mình có một luồng bức lực đẩy ra vô cùng, liền cởi tạm áo đặt lên bên trên, ở sau lưng hiện ra một hình bông sen lửa, ở trước ngực có hình một con rồng xanh, ở trên hai bàn tay, một bàn tay có hình thái cực đỏ trắng và một bàn tay có thái cực xanh trắng hiện lên, thân thể giống như chạy rần rật dữ dội. Duy Hựu cảm giác thân thể mình như một luồng năng lượng đang bức ra vậy. Lúc này Duy Hựu nghĩ: “Ta nên làm gì nhỉ?”, liền ngồi xếp bằng luyện công, luyện đến lần thứ 9 đột nhiên thân thể cảm giác như căng trương ra, bay phình lên trên không, nứt ra từng mảnh nhỏ, đau đớn vô cùng, cảm giác là bàn tay mình không phải là của mình nữa, xương cốt đều đau từ tận bên trong, phổi đau, tim đau, gan đau, thận đau, tỳ đau. Tất cả đều giống như muốn vỡ tung ra, từng dây thần kinh một bị kích động, gần như đau đớn vô cùng.
Duy Hựu lại không biết làm thế nào, liền nghĩ một niệm là: “Dường như thân thể ta không chịu được”, nghĩ đến thế con rồng ở trước ngực liền biến mất, thái cực ở trên hai bàn tay biến mất, bông sen ở sau lưng biến mất, liền ngã xuống, thở hồng hộc, lúc đấy mồ hôi đầm đìa trên trán. Thực ra buổi sáng khi Duy Hựu sử dụng Thần công để chiến đấu với Hắc Long, để xua tan Hắc Long và nhiếp phục Hắc Long, đã khởi động những bộ Thần công từ bên trong Duy Hựu và như thế bắt đầu xuất hiện ra bên ngoài. Đấy là điều mà thân thể người thường không chịu nổi, kể cả với năng lượng của Duy Hựu là ở trong Kì giới đã tu luyện đến Tiên thể, nhưng cũng không chịu nổi năng lượng này, cảm giác rất đau đớn. Thân thể của Duy Hựu giống như từng tế bào một đều đang chịu áp lực vô cùng vậy.
Thực ra năng lượng giống như một dòng chảy, nó chỉ tựu thành một dạng cấu hình sinh mệnh, một dạng hình sinh mệnh, tức là nó là một dạng, nó là một dòng chảy, dòng chảy này chỉ có dạng, chỉ có hình, chỉ có đủ Thanh – Hình – Sắc – Vị khi nào có một điểm trấn giữ nó lại. Giống như một dòng chảy phải có một cái cung Hum ở đấy thì Om Ma Ni Pad Me mới bắt đầu tụ lại được một chỗ. Nếu không phải vì sự đối đầu giữa Om với Hum, đúng hơn là sự tương phản, tương hỗ giữa Om với Hum thì các cung còn lại không thể tựu thành một chỗ, không có thân người. Cho nên một khi năng lượng này đã thành một dòng chảy, nó cuốn đổ mọi vật chất của Duy Hựu, thì Duy Hựu đột nhiên giải thể giữa đấy. Đã không ở trong không gian đấy thì thực hiện sự việc trong không gian đấy thế nào? Giữa các không gian là liên đới, không gian bề mặt là có một sự liên đới cụ thể. Bởi vì không gian bề mặt là một cõi trung gian có thể tác động đến mọi cõi, mọi cõi đều phải có hiện hữu ở bề mặt, cho nên Thần Mệnh, Sứ Mệnh của Duy Hựu hẳn nhiên là nằm ở bề mặt, hẳn nhiên là còn rất nhiều điều thực hiện ở bề mặt liên quan đến rất nhiều Cảnh Giới, rất nhiều Tiên Môn, rất nhiều Chính Phái, rất nhiều những điều được an bài trong lịch sử vũ trụ, thậm chí trong lịch sử sâu xa không thể ngờ tới được. Duy Hựu hôm nay một khi đã giải thể không phải là chết, mà là sẽ cuốn theo dòng năng lượng đấy bị bay lên trên, thậm chí sinh mạng chưa chắc đã giữ được. Bởi vì nếu không thực hiện được điều là làm chủ được các dòng năng lượng ở trong mình thì Duy Hựu coi như Công Đức chưa đến chỗ đấy, sẽ giáng hạ xuống một phần, dòng năng lượng của các vị ban cho vẫn là đang trôi chảy như thế. Tức là Duy Hựu cũng không thể đồng hóa được với dòng năng lượng đấy, đã không thể đồng hóa được thì tất nhiên là bị nó cuốn đi rồi, dạng hình cũng biến mất, coi như thất bại Sứ Mệnh thì chính là tiêu tan rồi.


Thực ra chuyện mà Duy Hựu trải qua bất cứ người chân tu nào lãnh những Sứ Mệnh lớn đều trải qua ở trong các cõi Linh giới của mình. Sư tỉ của Duy Hựu trong một thời gian ngắn đạt đến Thần thông vô lượng như thế ở trong tầng bề mặt, bởi vì Duy Hựu đang không ở trong tầng bề mặt, mọi Thần thông đều có thể xuất phát, thế mà Thần thông của Duy Hựu lúc này chưa chắc đã vượt hơn được Thần thông của sư tỉ Duy Hựu. Sư tỉ Duy Hựu đã trải qua những khổ nạn nào, đã qua những khổ nạn nào ở trong các cõi giới khác nhau để đạt đến Thần thông của mình, chuyện đấy chẳng qua là chuyện không biết đến, không phải là chuyện để ghi lại, chỉ thế thôi, còn chuyện của Duy Hựu là chuyện để ghi lại nên chúng ta biết tường tận như vậy. Còn ai đạt được một Thần thông chẳng vô cùng trắc trở gian nan, ai đạt được một chút công, ai đắc được một chút, trải qua các cõi không gian của họ, liên quan đến bao nhiêu sinh mệnh, liên quan đến bao nhiêu kì vọng, liên quan đến bao nhiêu điều cao thượng nữa, chuyện đấy ai mà biết được. Chỉ có điều là chính người tu thì cứ tu đi thôi, còn chuyện gì cần lưu giữ sẽ lưu giữ, chuyện gì cần được kể sẽ được kể, chính là thế.
Duy Hựu ngồi thở hồng hộc, mồ hôi chảy dài trên trán. Đúng lúc đấy thấy cánh cửa trước mặt xuất hiện một luồng sáng trăng trắng, rồi có một giọng nói từ luồng sáng đấy phát ra: “Ngươi sao gặp hiện tượng kì dị vậy?” Duy Hựu bật thốt: “Cô cô! Người vẫn ở đây à?” 

Thứ Năm, 28 tháng 12, 2017

Bất tín

1. Nó vì người mà đau khổ. Tự dằn vặt mình. Nhưng trước bề trên vẫn chân thành, tôn kính. Hạng người ấy, dẫu ngã, vẫn sẽ đứng lên được.

2. Nó vì người khác mà đau khổ. Vì đau khổ mà tự-vì-mình. Trước bề trên bất kính, láo xược. Hạng người ấy dù đứng bằng ba chân cũng quỵ ngã.

3. Chẳng cần đợi nó bất tín, anh sẵn lòng bất tín nó rồi. Loại bất tín, bất kính chính là loại không dùng được, nó có quỳ dưới chân em em cũng đừng dùng nó.

4. Người ta sống mà còn tốt, chính là tự mình có lương tâm và lễ nghi. Lương tâm và lễ nghi cấu thành Đạo Đức. Trên Đạo Đức là Pháp Lí. Chúng nó không có lương tâm, chẳng còn lễ nghi, thì chẳng khác nào người xấu xa tệ hại.

5. Nên em phải chọn người mà đặt niềm tin. Lại phải chọn người mà bất tín. Tin nó cũng vậy, bất tín nó cũng vậy, đừng cho nó biết. Cứ nói với nó như trước, đừng thay đổi thái độ. Đó là vì em cần cao thượng. Nhưng đừng kì vọng vào nó, đừng giao việc cho nó. Nó không xứng đâu.

6. Đừng để nó nảy sinh tâm lí bài trừ, ngờ vực, ác ý với em. Muốn thế, em cứ cao thượng đứng ngoài nó. Kệ nó quãy như giun như đỉa, như con quạ đập vào đá, như bánh ngon mà bị mốc.

Thứ Bảy, 16 tháng 12, 2017

Trân trọng đến đâu

Như đợt trước, lòng anh khắc khoải, thấy bế tắc vô cùng. Muốn đem Chân Kinh cho thương sinh, thương sinh lại sinh lòng oán đố. Vì sao vậy? Thương sinh chỉ muốn cái thuận cho mình, hợp với tư tâm, mà chẳng hấp thụ nổi điều cao quý, chí lí, hạnh phước. Nghe ngụy kinh thì khỏi phải chân tu, nên thương sinh lấy làm an hòa thích thú. Đi ngủ không lo viên mãn, đi làm không lo phẩm giá, đi ra không nghĩ chuyện tâm tính, đi vào không cần phải trang nghiêm.

Đó là hạng gì? Thích giận thì giận, thích ghét thì ghét, tư tâm tư tình mặc nhiên phát tác, bất quản trên dưới, không có trước sau. Lòng dạ chúng ẽo ợt.

Lại là hạng gì? Có điều để đố kị thì hết sức thị phi, lời qua tiếng lại, muốn đem độc ác mà đày đọa người khác, hả hê như răng tanh thấm máu, lời nói độc địa mà tự thấy thỏa lòng. Tâm trí chúng bại hoại.

Hạng ẽo ợt, bại hoại đó, anh gặp chẳng phải ít. Chúng có muôn hình muôn lốt, tưởng rằng nhổ nước bọt vào kinh sách, đem lời Phật ra thiêu đốt thì được uy đức cho thân mình, thật là vô minh, si ngốc. Thân xác bùn đất, xương máu bẩn thỉu của chúng đều đau đớn mà tã nát thành tro bụi. 

Chúng sợ hãi lắm, thường kiếm cớ nhìn vào tượng Phật, để chắc rằng Phật chỉ là tượng. Chúng đọc lời Phật, để thấy Phật chỉ là lời.

Không biết rằng Ơn Trên oai nghiêm, chưa hề bất minh bất bạch với chúng.

Lại làm anh nhớ đến lời của A Nan trong Kinh Dược Sư:

 A-nan bạch rằng: “Bạch đấng Thế Tôn đức độ cao vời, đối với các kinh điển mà Như Lai thuyết con chẳng hề sanh lòng nghi hoặc. Vì sao vậy? Tất cả nghiệp thân, miệng, ý của đấng Như Lai, không có gì là không thanh tịnh."

“Thế Tôn! Hai vầng nhật nguyệt kia có thể làm cho rơi rụng xuống. Núi chúa Diệu Cao có thể làm cho nghiêng ngã. Nhưng những lời chư Phật dạy không hề sai khác."

Còn em thì sao?

Thứ Năm, 14 tháng 12, 2017

Đọc Kinh Dược Sư

Ngồi nghĩ về Phẫn Nộ Minh Vương, anh lại đọc được một đoạn này trong Kinh Dược Sư:

Lại nữa, Văn-thù-sư-lợi! Nếu có những người tuy được học đạo nơi đức Như Lai, nhưng phạm vào các giới cấm; hoặc chẳng phạm giới, nhưng phạm vào quỹ tắc; hoặc chẳng phạm giới và quỹ tắc, nhưng hủy phạm chánh kiến; hoặc chẳng hủy phạm chánh kiến, nhưng chẳng được nghe biết nhiều, chỗ Phật thuyết những nghĩa sâu trong kinh điển đều không thể hiểu rõ. Hoặc tuy nghe biết nhiều, nhưng sanh ra kiêu mạn thái quá. Do kiêu mạn thái quá che lấp cả tâm tánh nên bao giờ cũng cho mình là đúng, người khác là sai, chê ghét chánh pháp, làm bạn với ma. 

Những kẻ ngu si như vậy chẳng những tự mình đi theo tà kiến, còn làm cho vô số người khác phải đọa vào hố sâu hiểm ác. 


Những người ấy tội đáng phải lưu chuyển mãi mãi trong các cõi địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ..."

1. Quỹ tắc là quy phạm của Tăng hội, xếp sau cấm giới, quan trọng hơn Chính kiến. Cho nên nói rằng, người hành xử đúng lí trong Tăng hội, chẳng chia rẽ, chẳng gây tình thủ oán, chẳng khiến trên dưới ghét nhau... thì người ấy quả thực có Chính-Kiến.

2. Đây là một đoạn văn tuyệt vời. Cấm giới, Quỹ tắc, Chánh kiến, nghe lời Phật thuyết, Ngộ tính, trừ bỏ Kiêu mạn... Đó là những nấc thang tuyệt đối hệ trọng của người tu. Nên rằng, chưa giữ được Cấm giới, đừng bàn chuyện tốt hay xấu cho Tăng hội. Chưa làm đúng sự luật Tăng hội, đừng nói chuyện có Chính kiến. Chính kiến chưa có, thì dẫu cho ngồi dưới chân Phật cũng không nghe được lời Phật thuyết. Nói gì đến Ngộ!

3. Kiêu mạn hiểu đơn giản là: Mê mà dám cho mình là Tỉnh, Tối mà tự cho mình là Sáng, chưa Chứng Đắc mà tự cho mình là Chứng Đắc. Còn có một đám người đáng khinh anh đã gặp: Chưa làm nổi người tử tế nhưng luôn tự cho mình là Thần. Kiêu mạn thái quá, thì tâm tính cũng bị che lấp cả rồi, gặp Chính Pháp thì ghét bỏ, làm bạn với Ma quỷ mà không tự biết, chỉ xem mình là đúng, kéo bè kết đảng dụ dỗ người ta vào làm chuyện táng tận lương tâm, đưa người khác vào hố sâu ác độc sai trái.

4. Hạng ấy thì vẫn đang rơi xuống cõi Địa Ngục, Ngạ Quỷ vò xéo cắt lưỡi lột da rồi. Chúng đang tự cào xé gào thét đó. Em có nghe thấy không?

Chủ Nhật, 10 tháng 12, 2017

Dâng? Tặng?

1. Dâng là người dưới cúi xuống đưa lên ngang mày để người Trên nhận.

Tặng là người Trên cúi xuống đặt vào tay người dưới.

Cái lí ấy có lẽ gì?

2. Anh định làm một chuyện lớn lao. Đến khi ấy mới biết Trên không thể dâng, dưới không thể Tặng. Đến lúc ấy mới nghĩ, thế gian ấy mà, không phải chỗ anh muốn đứng.

3. Vì thế gian không phải chỗ anh muốn đứng, nên anh đi xuyên qua nó, không ngại nó xấu bẩn. Nhưng nó ngại anh trong sạch. Thế thì anh tỏ ra vấy bẩn. Nhưng nó vẫn ngại anh trong sạch. Vậy anh nên làm gì?

4. Anh lùi vào một góc nhỏ. Nhìn ra thế gian. Thế gian vẫn vật lộn đau đớn, vẫn là thế gian! Điều anh tặng chúng, anh lấy lại. Chúng lăn ra hộc máu và quẫy đạp trên nền đất lạnh buốt. Chúng hỏi anh:

- Kìa, điều ta Tặng ngươi thì sao? Sao ngươi bạc ác tanh tưởi như vậy? Ngươi cố chấp mà không có đạo lí! Vô ơn mà không có tín nghĩa!

5. Đó là tất cả những gì chúng dâng anh, sau đó chúng lụi tàn như tro bụi.

6. Sau đó anh đóng cánh cửa. Và nắm tay những người máu mủ của mình đi về phía một vũ trụ mênh mông.

Thứ Sáu, 8 tháng 12, 2017

Nghiêm huấn

Lúc Đức Thích Ca chuẩn bị lìa thế gian, Ngài có dặn trong Kinh Di Giáo thế này:

"Tỳ-kheo các ông! Đã có thể trụ yên nơi giới rồi, nên chế ngự năm căn, chớ để phóng dật, chạy theo năm dục. Ví như người chăn bò, cầm gậy canh giữ, chẳng để cho tự do chạy bậy, xâm phạm ruộng người. 

"Nếu buông thả năm căn, chẳng những là chúng chạy theo năm dục không có giới hạn, không thể chế ngự được, lại như ngựa dữ không dây cương kiềm chế, sẽ lôi người xuống hầm hố. Như bị giặc cướp làm hại, chỉ khổ một đời này thôi, nhưng bị giặc năm căn gây hại, khổ nạn kéo dài nhiều kiếp, lại rất nặng nề, không thể không thận trọng. 

"Vậy nên người có trí chế ngự các căn, chẳng hề tùy theo; phòng giữ như giặc cướp, không để buông thả. Nếu buông thả ra, chẳng bao lâu ắt phải diệt mất vì xúc chạm. 

"Tâm là chủ của năm căn. Vậy nên các ông phải khéo chế ngự tâm. Tâm rất đáng sợ, hơn cả rắn độc, thú dữ, kẻ giặc thù, nạn lửa lớn tràn lan... Những thí dụ như thế cũng còn chưa đủ. Sự nguy cấp giống như người tay cầm bát mật, đi lại nhanh nhẹn, mắt chỉ nhìn vào mật nên chẳng thấy cái hố rất sâu dưới chân; như con voi điên không có móc sắt để kiềm giữ; lại như con vượn được lên cây, mặc tình nhảy nhót, khó bề ngăn cấm, chế ngự. Phải mau mau kiềm chế, chớ để phóng dật. Nếu buông thả tâm, tất cả việc lành sẽ bị hủy hoại mất; chế ngự được tâm rồi, không việc gì không xong.

"Vậy nên chư tỳ-kheo phải siêng năng tinh tấn, chế ngự cho được tâm."



Về nghiêm huấn của Ngài, anh không có ý kiến nào để bày tỏ. Ngũ căn gồm: Tai, Mắt, Mũi, Lưỡi, Thân. Đối với sự thả lỏng ngũ căn mà gây ra dục, Ngài nói rằng mấu chốt không phải là cắt lìa Dục mà là làm chủ Tâm, vì Tâm là chủ của ngũ căn.

Điều này anh nghĩ người sau ghi chép chưa đúng lời Ngài. Phải nói là: Tình là thứ ra vào ngũ căn, Dục là cặn bã của ngũ căn. Tình là Nhân, Dục là Quả. Tình là Chủ, Dục là Khách. Có Chủ, tất có Khách. Có Nhân, tất có Quả.

Vì thế, đám nhiễm tình tất nhiễm dục. Để cái Tâm sáng biến thành Tình đục, đê cái Tình đục chiêu dụ Dục vọng nhơ bẩn, đó là chỗ sai lỗi lớn khó quay đầu.

Đáng thương thế đó.

Mà đáng xấu hổ thế đó.

Thứ Bảy, 25 tháng 11, 2017

Rất nhỏ

Có một chuyện rất nhỏ, con người ai cũng phạm được.

Mà phạm thế, anh nào có trách.

Nhưng con ông ấy không phạm. Vì giữ danh cho ông ấy. Vì phẩm hạnh của mình.

Điều đó làm anh xúc động vô cùng. Anh ôm nó vào lòng xoa mái đầu bạc thếch của nó.

"Con ạ,

Ta khóc mỗi khi con biết phẩm hạnh trân quý hơn nhân gian.

Nước mắt ta như kim cương,

Con chỉ cần nghe thấy là linh hồn sẽ sáng trong.

Con ạ,

Đừng gục ngã,

Ta tin con,

Tin rằng còn Mặt trời,

Con sẽ không lạc giữa con người,

Và trở về chói sáng.

Con phải nhớ, không gì xứng đáng,

Để đổi lấy điều cao thượng trong con..."

Nó mỉm cười. Lũn chũn chạy về phía anh.

Anh ôm nó đi một vòng quanh vũ trụ, chỉ cho nó những Thiên Hà.

Rất nhỏ bé,

Nhưng to lớn vô cùng ^^

Thứ Năm, 23 tháng 11, 2017

Là con người

Họ là con người. Con người thì anh xét thế nào?

Con người thì không có trí huệ. Trí huệ bị đóng lại cả.

Con người thì mê muội. Miễn cố sống đúng với tiêu chuẩn người tốt, thế là được.

Con người thì chỉ là máu thịt. Thân thể là huyết nhục.

Anh làm gì với đám thông minh vặt, cố làm người tốt, chỉ có máu thịt?

Xem họ là con người, chứ sao nữa?

Họ là con người, thì em không cần đối xử hơn con người. Đối xử với họ đúng là con người.

Cũng như cái gì không bằng con người, thì đừng đối xử như với con người.

Thật là đám vô dụng, phiền phức. Vậy là từng là hi vọng có thể đắc lực, tốt đẹp.

Nhưng thôi, là con người, là con người!

Thứ Sáu, 20 tháng 10, 2017

Không giữ người

Anh có viết một vài bình luận về Thái Cực. Dẫu sao Thái Cực vẫn là căn yếu của vật chất.

Có người học trò nọ, đọc xong liền tìm đọc thêm về Thái Cực, thấy có nhiều điều anh không giảng đến, rất tự đắc nghĩ: "Ta giỏi hơn Thày rồi, vì ta biết cà hai".

Người ấy học lớp thấp được, không học lớp cao được.

Lại được một thời gian, người ấy đem những điều người ấy biết về Thái Cực mà đi làm các công việc như xem bói, phong thủy. Rồi tự tổng hợp thành cách hiểu của mình, lại đọc thêm nhiều sách vở. Lúc này sở học đã khá. Có thể tự hào nói là Đúng.

Người này không học được, chỉ có thể hoại.

Anh liền trục xuất nó.

Nó quỳ xuống khóc mà rằng: "Ngộ có tội sao? Đúng thì sai sao?"

Anh bảo: "Ngươi sống đúng như con người nhân gian rồi. Nên trả ngươi cho nhân gian?"

Nó ngước lên trừng mắt hỏi: "Thày hẹp hòi thế sao? Muốn nhốt người trong tri kiến của mình sao?"

Anh mỉm cười bảo: "Ngươi muốn học sở học của đời, lại muốn biết theo cách của mình. Vậy ta trả ngươi cho ngươi, giả ngươi cho đời, lại còn oan khuất nữa sao?"

Nó vuốt nước mắt bước đi.

Có điều nước chảy từ mắt nó ra không phải nước mắt.

Chỉ là một dung dịch của con người đấy thôi!

Chủ Nhật, 15 tháng 10, 2017

Không có Ơn

1. 

Khi Đức Thích Ca rời thế gian, khi ấy đệ tử của Ngài là Ma ha Ca Diếp đang dẫn tăng chúng đi truyền giáo. Mấy ngày sau có người báo cho Ma ha Ca Diếp biết. Tất cả bọn họ đều khóc thương vô cùng. Chỉ có một Tỳ Kheo trẻ thấy tất cả mọi người khóc thương liền bảo: "Khi đức Thế Tôn còn tại thế, mọi hành động đều phải bó buộc trong phạm vi giới luật, mất quyền tự do, ngày nay đức Thế Tôn đã diệt độ, từ đây trở về sau sẽ được tự do hành động, không bị giới luật ràng buộc."

Thế là Ngài Ma ha Ca Diếp liền triệu tập Đại hội kết tập lần thứ nhất để thống nhất giáo lí, kim ngôn của Phật.

Anh Tỳ Kheo trẻ kia có đáng trách không?

Trong Đại hội đó, ông A Nan, đệ tử trung thành bậc nhất, luôn đi theo hầu Phật lúc Ngài giảng bài và ghi nhớ mọi lời giảng, bị trách rằng: BIẾT Đức Thích Ca có thể không diệt độ mà ở lại nhân gian lâu hơn để phổ độ, vậy mà không xin Ngài ở lại.

Ông A Nan bảo, ấy là ma quỷ che mờ tâm trí mình.


2. 
Con người là con người. Người đang tu thì vẫn mang thân phàm xác thịt, vẫn sống như một mớ máu thịt xương da di động và sống để được tuân theo máu thịt da xương ấy.

Khi gặp được Thánh Nhân, người ấy nói cho con người rằng, các ngươi cao quý hơn thế. Có kẻ gục mặt xuống đất tiếp tục tìm kiếm xác thịt. Có người cười khẩy. Có người quỳ xuống xin được theo.

Nhưng xin được theo thì đã sao? Vẫn là máu thịt ấy, nghe đến giới luật, tôn nghiêm, nghe đến đời cao quý khổ hạnh bèn không chịu nổi, oán hận, ác ý.

Thích Ca có biết A Nan như thế không? Có biết anh tỳ kheo trẻ trung kia nghĩ thế không?

Có chứ!


3. 

Điều anh muốn nhìn, rốt cuộc, là xem những người đó có làm được điều đúng tốt mà anh mong mỏi ở họ không. Đã có những kẻ không chịu nổi giới luật khắt khe mà phỉ báng hãm hại Phật. Đã có cả đệ tử của Ngài mong Ngài sớm ra đi.

Thì anh sao cầu mong mình có điều tốt hơn Ngài được?

Nhưng anh có ơn hay không có ơn với họ, lẽ nào anh cần phải nghĩ biết nữa?

Ai đáng được gì, ai đáng nhận gì, không những đã nhận, mà sẽ còn nhận.

Có việc cần làm, thì làm đi!

Có việc phải làm, thì làm đi!

Có việc nên làm, thì làm đi!


Thứ Năm, 5 tháng 10, 2017

Bất kính

1. Anh thường trao đổi với một người tu bên Chân Pháp về lòng ái-kính. Anh bảo, con người chỉ có thể nhìn sự việc từ góc độ con người, nên sẽ làm theo cách của con người. Kết quả của việc họ làm là nhân gian. Nên dẫu có từ Phật Pháp mà điểm hóa họ, thì dù họ gật đầu, lắc đầu, cúi lạy, dạ vâng,... họ sẽ đều theo tâm cảm nhân gian của họ mà hành sự. Lòng họ sợ Thần, nhưng không kính Thần, thì cũng là vô Thần.

2. Nó có con mắt của kẻ tham tiền, thực dụng, hưởng thụ, phóng túng, hung ác. Nó không biết rằng ngước nhìn Thần, mắt nó sẽ bị chọc mù. Con mắt thứ ba của nó đã bị phế hẳn rồi, nhưng vì còn hai mắt bằng thịt, nó tưởng mắt mình còn sáng lắm.

3. Hễ nó ra khỏi cửa Chùa thì làm điều ác độc bất kính vô Thần, nó tưởng không ai biết điều đấy, nên tự tung tự tác. Không biết rằng hỏa ngục dưới chân, đừng tưởng trà trộn nơi tôn kính, lấy lời đạo đức giả nạt nộ người ngay thì không ai biết tội. Da thịt thối rữa mà không hay biết, răng tóc bị thiêu cháy mà vẫn cố cười, chính là chưa biết tử hạn đáo kì, đều có thời điểm.

4. Đêm tĩnh vắng, đọc lại mấy đoạn Châm Ngôn của Sách Cựu Ước.


8 Ðức Chúa ghê tởm hy lễ của đứa ác,
nhưng ưa thích lời cầu của kẻ ngay.

9 Ðức Chúa ghê tởm lối sống của ác nhân,
nhưng mến thương người theo đuổi sự công chính.

10 Kẻ rời xa đường ngay chính sẽ bị nghiêm trị,
ai khinh thường lời sửa dạy sẽ phải mạng vong.

11 Âm phủ, âm ty còn phơi bày trước nhan Ðức Chúa,
huống chi là lòng dạ con người!

12 Kẻ nhạo báng không thích bị khiển trách,
cũng chẳng chịu đến với người khôn.

13 Lòng mừng vui làm hân hoan nét mặt,
lòng sầu muộn khiến tâm trí rã rời.

14 Trí người minh mẫn kiếm tìm tri thức,
miệng kẻ ngu si ham thích chuyện điên rồ.

15 Kẻ cùng khốn thấy ngày nào cũng xấu,
đời người vui là yến tiệc kéo dài.

16 Ít của ít tiền mà biết kính sợ Ðức Chúa
hơn có cả kho tàng mà cứ phải âu lo.

17 Thà bữa rau bữa cháo mà yêu thương nhau
còn hơn mâm cao cỗ đầy mà bất hoà bất thuận.

18 Kẻ nóng tính gây ra cãi vã,
người chậm giận làm dịu cuộc đôi co.

19 Ðường kẻ lười bị rào gai cản trở,
lối người ngay được bồi đắp thênh thang.

20 Con khôn làm hài lòng cha,
đứa dại không nể mặt mẹ.

21 Kẻ ngu si lấy điều dại làm vui,
người hiểu biết cứ thẳng đường mà tiến.

Thứ Hai, 2 tháng 10, 2017

Tư tâm

1. Con người là con người. Chỉ có thể nghĩ theo cách của con người. Đến ngẩng lên nhìn Trời, cũng là nhìn từ chỗ của con người.

2. Chỗ rất con người, ấy là Tư tâm. Trong tư tâm, chỉ có đố kị, ích kỉ, sở hữu, mong cầu, ngờ vực, rối loạn. Đó gọi là Lục tư niệm. Trong lục tư niệm, con người là người bằng cách cảm xúc và tư duy như một con người.

3. Anh chưa bao giờ nghĩ phải giải thích cho con người cách anh nghĩ. Chúng còn không tin nổi Thần là tồn tại, làm sao tin rằng anh là có-Thật.

4. Cho nên, vô minh thì cứ vô minh. Đó là nghiệp-chướng của con người. Có điều: Làm người, đừng bất kính với Thần.

5. Bỏ tư tâm, phải vô tâm mới được. Nhưng vô tâm trong cách nghĩ của người, thật sự hèn mạt, thật sự nông cạn. Muốn biết vô tâm là gì, phải bỏ tâm trước đó.

6. Nhưng bỏ tâm thế nào, cũng không như con người nghĩ. Nên, hãy đọc sách đi. Còn kịp đấy.

Thứ Bảy, 9 tháng 9, 2017

Chờ Duyên

1. Trước khi Thiện Duyên tới, thì Ác Duyên đến. Ác Duyên ấy suốt ba năm đã bị cắt sạch rồi, thì còn chờ Thiện Duyên lần lượt tới thôi. Sở dĩ có người chờ không được, là vì Phận mỏng, lại bạc Phước.

2. Cái trong mình mà cho mình Phận, gọi là Đức. Cái ngoài mình mà cho mình Phận, gọi là Phước. Người nào đến giúp mình vì Đức mà lại theo an bài mà làm Phước cho mình, người ấy thi Ơn với mình. Gặp người có Ơn mà bạc Nghĩa với họ, đó là phường phản phúc.

3. Người đến là Thiện Duyên, thì người gặp lẫn người đến đều đắc Thiện Duyên. Người đến mà mang Ơn, người ấy cũng đắc Ơn. Đó không phải là vay trả, không phải là duyên nghiệp. Đó là An Bài.

4. Những người mang Thiện Duyên rất lớn sắp tới rồi. Chỉ lo con cháu anh bạc Phước, lại bạc Phận. Nhớ rằng: Mình ở chỗ Cao, đó là Quý. Ở chỗ Cao Quý mà mê cái Thấp Hèn, đó là Đê Tiện. Đã Đê Tiện, thì còn mong được Phận gì, Phước gì. Thật là Bạc đó mà.

5. Kiên nhẫn chút nữa, một chút nữa thôi. Đến ngay đó rồi, đều là Đại Sự.

Chủ Nhật, 20 tháng 8, 2017

Vừa lòng

1. Có người đọc xong các hiện tượng tâm lí đô thị, bảo anh rằng thật dễ hiểu quá, đọc xong không còn gì để nghĩ nhiều. Dĩ nhiên rồi, người ấy sống trong đô thị đã quen, có gì để mà thấy đâu. Như có người miệng thoăn thoắt rằng, đời là bến mê, người là vô minh, thuộc thập thành kinh sách. Nhưng vẫn vô minh, vẫn trong mê. Đám giả tu đó hoặc những kẻ tưởng-mình-biết ấy nào có Ngộ đâu, chỉ chăm lo vui thú sự mình giữa nhân gian ấy thôi. Người thấu hiểu tâm lí và không sa vào tâm cảm, đó là người làm anh vừa lòng.

2. Những kẻ tự tôn cũng đáng thương như đám tự ti. Đều vật lộn trong khiếm khuyết lẫn ảo tưởng về mình. Anh rất khinh những kẻ tự ti, hệt như thấy đáng cười những kẻ tự tôn. Kẻ tự ti thì lại làm ẩu loạn mà lấp tự ti của mình, hoặc theo một tôn giáo hoặc phép tu nào đó rồi nấp trốn trong đó. Kẻ tự tôn thì tưởng mình ghê gớm lắm, hóa ra cũng chỉ là cáo mượn oai hùm, vay danh Thần Phật hoặc tiền quyền (mà chúng có phân biệt đâu). Anh có một cô học trò nhỏ, chẳng tự ti về cái mình có, cũng chẳng tự tôn cái mình có. Cô ta đi như ánh trăng giữa nhân gian, thần khí như tiên hạ phàm. Dẫu lòng còn canh cánh nhiều chuyện trước sức ép nhân gian, nhưng nhân gian chẳng bám được nó nữa rồi. Ấy là người làm anh vừa lòng.

3. Anh thường nói rằng kẻ dưới đừng bàn chuyện trên, vì chúng có hiểu cái trên đâu. Có điều đó vẫn là cách chúng phát tác nhân gian trong mình. Vì tâm cảm nào chúng thích bàn chuyện trên, nói đến Thần Phật như vậy? Không sửa được mình thì thôi, đừng lấy Thần Phật nào làm cớ, càng nghe càng đáng xem thường, thật là mạt hạng ti tiện. Người bước vào chỗ gọi là tu luyện ấy còn chưa đủ 5 năm, Ngũ Trí còn chưa đọc hết 10 lần, thì nhét vào đầu người ta Thần này Phật nọ làm gì? Định thị uy hay ra oai? Nhân danh cái gì? Anh có biết một người nọ, chuyện tu luyện để trong lòng, thành kính đọc kinh Phật, âm thầm chỉnh sửa cá nhân, làm tốt mọi việc ở đời, giữ vẹn đạo nghĩa mà không sa vào toan tính. Chắc chắn người ấy làm anh vừa lòng.

4. Bản tính con người, đáng xấu hổ là tính thích can dự chuyện người khác. Đáng xấu hổ hơn là mượn cớ bảo thủ cực đoan vào tính cách của mình mà không biết tôn trọng người khác. Đáng chê trách nhất là vì nó mà gây hại cho người khác. Nên kẻ nào không biết tôn trọng người khác, thì đừng mong người ta tôn trọng mình, càng đừng mong ai trên đời thương cảm mình. Kẻ đó sống thì sống, chết đi cũng không ai thương. Kẻ nào thích can dự chuyện người chỉ vì rảnh quá, thì thật sống quá uổng phí, thà nhường cái mạng đó cho người tử tế còn hơn. Còn kẻ nào chuyên gây hại cho người khác, thì thà đừng sinh ra. Anh sống ở đời, cần thay đổi thì thay đổi, cần sửa thì sửa, không vì mình mà hại người, không vì người mà hại người khác, cái gì làm tốt được cho lợi ích chung, nhất định nên làm, cái gì chỉ tốt cho mình thì không để dây dưa đụng chạm vào người khác. Anh thật thấy vừa lòng về mình.

Thứ Sáu, 18 tháng 8, 2017

Phân định

1. Ngũ trí phải thập-phần thập-bận mài đi mài lại mới tinh thông. Người không làm đủ thì là không làm đủ. Không đủ thì không viên-thành được. Không viên thành được thì không đột phá được.

2. Kìa, anh ngửa mặt nhìn Trời thấy thời đã đến. Đất mở ra rồi, Trời cũng mở ra rồi. Có Bảy vị Diêm vương lên triều bái. Cũng có Bảy Thiên thần đến kết duyên.

3. Độ nhân không phải là vì Tình. Càng không phải để thỏa mãn mình. Việc ấy vốn gian khó, cần dung nhẫn, cần biết kiên định, lí trí.

4. Tu luyện không chỉ là vì Mình. Nhưng đạt đến chỗ có thể thấy rõ Mình trong tu luyện, đó là người tu. Thấy Mình trong tu luyện, không hẳn là Hướng Nội, mà là điều hòa, cân bằng giữa áp lực Hướng Nội và Sự Vụ bên ngoài. Đó là Kì Hình.

5. Không tu, thì chỉ cần là một người tử tế. Người tử tế cũng đáng trọng rồi. Đừng bắt người ta phải tu hay không tu. Giúp họ tín Thần và biết còn có Đạo là được rồi.

6. Gặp một người không tử tế, thì đừng gần cận thân thiết họ là được. Nhưng đừng sỉ nhục họ, cũng đừng khinh rẻ họ.




Thứ Ba, 15 tháng 8, 2017

Đáng giận thì giận

1. Nghĩ đi nghĩ lại, anh không thể làm việc cùng đám người tâm thần, vì thế phải cắt bỏ họ đi cả. Họ vật vã trong cái vũng của mình, không hiểu cả lí trí bình thường, thì làm sao hiểu thấu trí huệ. Hạng người ấy qua khổ càng không có trí, càng khổ càng bất trí. Cho nên anh mới nghĩ, cấm người loạn tính rồi, còn phải cấm cả đám tâm thần. Tuy vậy việc khéo léo không thể ngày một ngày hai mà xong, có điều việc lớn không nên để sẵn cái sạn nhỏ ở đó. Cần triệt tiêu thì triệt tiêu thôi. Sự ấy, lẽ thường.

2. Anh rất đề cao 3 đức tính: Chịu khó, chịu khổ, chịu nhục. Người chịu được khó, khổ, nhục, thì đảm bảo có trí huệ, có căn cơ, có thể đi xa, có thể mưu việc lớn. Chưa động đến đã giãy như đỉa, tuy có thể thông cảm về cái nhân gian đau khổ, nhưng lại cho thấy họ không có được 3 đức tính ấy. Không thì là không. Có gì mà mặc cả?

3. Con người nhân gian thì là con người nhân gian, họ vốn không biết trân quý điều cao thượng hơn nhân gian. Vì thế, họ xứng đáng với cái họ xứng đáng. Nâng không được thì hạ, cầm không được thì bỏ. Anh cũng không rảnh để cầm nắm xem xét họ mãi.

4. Làm người, ai chẳng muốn buông thả, hưởng thụ. Thế nên mới nói chuyện tu là Khổ.

Thứ Hai, 7 tháng 8, 2017

Lúc hoài nghi thì độ nhân

1. Khi Chúa sống dậy, Ngài không gặp các môn đệ ngay. Mà Ngài truyền tin đến các môn đệ thông qua các người nữ thân cận. Đó là bà Maria Magdalene. Đó là vì họ nhiều đức tin, mà không sợ hãi.

2. Đám thượng tế giả nhất định sẽ phao tin bịa đặt về Ngài. Bảo rằng việc Thiên Chúa là lén lút và lừa đảo. Chúng làm thế vì sợ hãi. Vì chúng không có Chúa. Chỉ có lòng đố kị. Chúng sẽ lụi tàn như tro bụi.

3. Trong tu về tính Thiện, kẻ không đủ thành tín, hoặc nhiều sợ hãi, hoặc không minh bạch, đều sẽ hoài nghi. Nên kìa, Ngài đã thức dậy, mà chúng vẫn định ngủ vùi. Thế nên Ngài bảo, anh em hãy độ nhân. Bằng cách đó anh em sẽ bên Ngài. Và thế là nhân gian được cứu.

Anh em có bên Ngài hay không, là tùy vào anh em ^^

Kinh Thánh cho 8/8

Tân Ước.

Matthew, 28

Ngôi mộ trống
(1) Sau ngày sabát, khi ngày thứ nhất trong tuần vừa ló rạng, bà Maria Mácđala và một bà Maria khác, đi viếng mộ. (2) Và kìa, đất rung chuyển dữ dội: thiên thần Chúa từ trời xuống, đến lăn tảng đá ra, rồi ngồi lên trên; (3) diện mạo người như ánh chớp, và y phục trắng như tuyết. (4) Thấy người, lính canh khiếp sợ, run rẩy và hóa ra như chết. (5) Thiên thần lên tiếng bảo các phụ nữ: "Phần các bà, các bà đừng sợ! Tôi biết các bà tìm Ðức Giêsu, Ðấng bị đóng đinh. (6) Người không có ở đây, vì Người đã chỗi dậy như Người đã nói. Các bà đến mà xem chỗ Người đã nằm, (7) rồi mau về nói với môn đệ Người như thế này: Người đã chỗi dậy từ cõi chết, và kìa Người đi Galilê trước các ông. Ở đó, các ông sẽ được thấy Người. Ðấy, tôi xin nói cho các bà hay". (8) Các bà vội vã rời khỏi mộ, tuy sợ hãi nhưng cũng rất đỗi vui mừng, chạy về báo tin cho môn đệ Ðức Giêsu hay.

Ðức Giêsu hiện ra với các phụ nữ
(9) Và kìa đức Giêsu đón gặp các bà và nói: "Chào chị em!" Các bà tiến lại gần Người, ôm chầm lấy chân, và bái lạy Người. (10) Bấy giờ, Ðức Giêsu nói với các bà: "Chị em đừng sợ! về báo cho anh em của Thầy để họ đến Galilê. Họ sẽ được thấy Thầy ở đó".

Các thượng tế lừa đảo
(11) Các bà đang đi, thì kìa mấy người trong đội lính canh mồ vào thành báo cho các thượng tế biết mọi việc đã xảy ra. (12) các thượng tế liền họp với các kỳ mục; sau khi bàn bạc, họ cho lính một số tiền lớn, (13) và bảo: "Các anh hãy nói như thế này: Ban đêm đang lúc chúng tôi ngủ, các môn đệ của hắn đã đến lấy trộm hắn đi.(14) nếu sự việc này đến tai quan tổng trấn, chính chúng tôi sẽ dàn xếp với quan và lo cho các anh được vô sự". (15) Lính đã nhận tiền và làm theo lời họ dạy. Câu chuyện này được phổ biến giữa người Do Thái cho đến ngày nay.

Ðức Giêsu hiện ra tại Ga-li-lê,
và sai môn đệ đi đến với muôn dân
(16) Mười một môn đệ đi tới miền Galilê, đến ngọn núi Ðức Giêsu đã truyền cho các ông đến. (17) Khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi. (18) Ðức Giêsu đến gần, nói với các ông: "Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. (19) Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, (20) dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy đã truyền cho anh em. và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế".


Chủ Nhật, 6 tháng 8, 2017

Phù Vân, Ngoại truyện (07)

Thực ra một ngọn núi gồm hai phần: một là phần cứng, hai là phần mềm. Dù khi nhìn thấy một ngọn núi, người ta chỉ nghĩ là có phần cứng, có đá của nó thôi. Giống như ở trong một phân tử đá có hai phần: một là phần cát, phần có thể trôi đi được, phần mà ta giũ một cái thể nào nó cũng rơi ra; và một phần không phải cát, nó giống như bùn, dính chặt, nó đính, kéo các hạt lại với nhau. Trong một ngọn núi lớn thì phần cứng nhất giống như phần hoa cương, nó là lõi núi, còn phần thịt nằm ở bên ngoài. Phần lõi núi cứng nhất, mạnh nhất, nó nằm giống như xương sống của toàn bộ ngọn núi. Bao giờ cũng có phần cứng và phần mềm, một ngọn núi bao giờ cũng có Cha và con, mối quan hệ Cha con trở nên rất thiêng liêng đối với tất cả các tộc người sống xung quanh vùng núi. Chẳng hạn như thói quen của người ta, tất nhiên là bây giờ người ta giải thích bằng rất nhiều nghĩa, như từ “Hùng Vương”, người ta cho rằng chữ “Hùng” xuất phát từ chữ Pó Khun (Pó Cun), về sau đọc thành Hùng Vương. Pó Khun (Pó Cun) tức là Bố Cả, và nó vẫn có nghĩa như thế. Vua Cha, Bố Cả, Bố là Cả, Núi là lớn, và có một phần lõi bên trong, lõi đấy là con gái. Con gái út bao giờ cũng cứng nhất, chắc nhất, thanh sáng nhất.

Nhưng tại sao lại như thế? Đối với con người nhân gian, ngày xưa những người không thông hiểu huyền học thường hay nói là khí Trời khí Đất tụ thành hình, nghĩ thế cũng đúng. Nhưng khí Trời khí Đất chỉ là một phương tiện, nguyên khí của vạn vật mới là sinh mệnh đích thực, nguyên khí khiến cho các sinh vật khác tụ xung quanh. Ngay cả bản thân một núi đá hoa cương, lõi núi, cũng có sinh mệnh của nó, sinh mệnh đấy tạo thành lõi núi chứ không phải lõi núi tạo thành sinh mệnh đấy. Không phải khí Trời Đất tựu thành một sinh mệnh, mà là sinh mệnh đấy tựu thành khí của Trời Đất, tập hợp khí của Trời - Đất lại. Cho nên không phải là tia sét đánh vào hòn đá sinh ra Ngộ Không, mà là sinh mệnh đấy hút tia sét và nó vỡ ra, nó đột phá nâng lên, nó có sẵn ở trong đá rồi.

Với một mạch núi chạy rất dài, chạy qua Việt Nam, toàn bộ mạch núi chạy đến Việt Nam, thì núi có hai phần: một là phần Dương lớn bên trên, hai là phần Âm chìm bên dưới. Hãy tưởng tượng, bóc hết phần đất – giống như thịt ra, thì phần bên dưới sẽ là xương núi.  Có thể thấy những ngọn núi trải dài bên dưới, những cái thềm, còn bên trên là đất phủ, có thể đất dày nhưng núi chạy trượt xuống, tạo thành những ống lớn chạy khắp các không gian. Khi Bố Cả ở đâu, Cha Núi ở đâu, chắc chắn là núi con cũng có ở đấy, có Long Mạch ở đâu thì Ẩn Long cũng phải ở đấy. Tất nhiên là Long Mạch càng lớn thì Ẩn Long càng nhỏ.

Ở xứ Việt, khi những mạch núi tiến ra biển, tất cả xoắn lại ở một vùng, tại vùng này những nút thắt núi tụ đến một điểm, nó mở ra thành một vùng đồng bằng mênh mông xung quanh, giống như một con Rồng cuốn, cuộn, bên trong chính là nơi để xuất sinh Thần Thánh. Đấy là nơi xuất sinh một trong những vị Thần, bởi vì vị Thần đấy giáng thế vào đấy, cho nên mạch núi sẽ chạy như thế. Đừng hiểu là mạch núi chạy như thế nên vị Thần phải ở đấy, vì Thần ở đấy mà sông núi thành như thế. Sông núi chạy theo cái lí của Trời, chứ Trời không chạy theo lí của sông núi, cái lí luôn luôn là vậy. Cho nên Lão Tử mới nói là: “Người theo Đất, Đất theo Trời”. Đất bao giờ cũng theo Trời, theo cái lí của Thần mà biến đổi. Ở vùng Sơn Tây là nơi mà núi cuộn lại và mở ra một vùng mênh mông, đấy là nơi xuất sinh một trong Tứ Bất Tử – Sơn Thánh. Thánh Sơn – Tiên Thủy – Thần Tướng – Phật Quang. Vị Sơn Thánh là đứng đầu, là Bố Cả, vị ấy quản lí tất cả các mạch núi. Vị ấy là người quản lí tất cả những hệ thống kiến tạo nên vùng quốc gia mà ngày nay gọi là miền Bắc, Bắc và Bắc Trung Bộ, toàn bộ vùng đấy thuộc vùng quản lãnh của vị ấy. Tất cả các mạch xương núi, gờ núi bên dưới là do vật chất tương ứng của vị ấy trước đấy mà tụ thành hình như thế. Vị ấy ở đấy bao nhiêu năm, bao nhiêu tháng, bao nhiêu ngày, tên là gì, không ai biết được, chỉ đến khi vị ấy xuất thế, rồi những con người ở đương thời biết đến vị ấy, gặp được vị ấy thì mới gọi vị ấy bằng một cái tên. Bản thân cái tên này không phải là một cái tên, nó chỉ là cách gọi, đấy là Sơn Thánh, Sơn Tinh, tất cả các tên này tương đương với nhau.

Một người Cha Cả luôn luôn có một con gái đi cùng. Người con gái này có thể ngỗ nghịch, và thường là cô con gái ngỗ nghịch. Cũng như trong câu chuyện của Liễu Hạnh, trong ba lần giáng thế, bà đều là một vị Thần nổi loạn. Bà không ở cạnh bên Cha được, bà chạy nhảy, bà không ổn định được, và tất cả những cô gái, tất cả những Nữ Pháp sư, tất cả những người con gái của các Bố Cả, đều vô cùng nổi loạn. Họ không ở yên bên cạnh Cha được, họ phải chạy nhảy, và vì thế họ thường đi lạc, họ thường giáng trần, họ thường mang lốt con người. Liễu Hạnh là công chúa ở trên Trời, nhưng khi giáng trần, bà là con người. Bà xuất sinh trong hình ảnh con người và cái tên Thần Thánh của bà là Liễu Hạnh, Pháp Danh được ban cho, chứ bà không lấy tên ở trên Trời nữa, bà lấy tên nơi mà mặt đất có tên. Còn Thiên Đình thì vẫn ở trên kia, Ngọc Hoàng chẳng bao giờ giáng thế.

Cho nên, nếu Sơn Thánh đã ở trong Tiên Giới, con gái Ngài hẳn phải ở nhân gian. Nhưng con gái Ngài là ai? Con gái Ngài luôn luôn ở nhân gian để vinh danh Ngài, thực hiện quyền năng của Ngài và là xương sống của Ngài, là phần giúp đỡ và khiến cho Môn Phái của Ngài được trở nên tỏa rạng. La Bình Công Chúa, Lâm Cung Thánh Mẫu, Đông Cung Thánh Mẫu, Mẫu Thượng Ngàn, rất nhiều tên gọi, tất cả những tên gọi đấy là gì? Bởi vì nàng đến đâu thì nơi đấy phải tụng ca nàng như thế. Lâm Cung Thánh Mẫu, nàng luôn luôn tươi trẻ, giống như đá hoa cương.

Hãy nói về các vật quí của con người. Trên đời này người ta thường nói có bốn thứ là quí nhất: tê giác hay sừng tê, giác là cái sừng; hột xoàn tức là kim cương; nhân sâm; mỹ nữ. Tê giác, hột xoàn, nhân sâm, mỹ nữ - bốn phần đấy được coi là bốn thứ quí nhất thiên hạ. Tại sao sừng tê lại quí? Bởi vì đấy là thuốc chữa bách bệnh, có thể chống được mọi thứ bệnh tật trên đời, trừ khử mọi thứ tà độc ở trên đời. Kim cương tại sao lại tốt? Kim cương có thể trấn yểm mọi mạch núi, nó là vua của tất cả đất đá, nó khiến cho đất đá phải phục tùng. Tại sao lại nhân sâm? Vì nhân sâm có thể kéo dài tuổi thọ, khiến cho tuổi một người có thể sánh ngang với Đất của một vùng, có thể khiến cho một người bất tử theo Đất, đấy là tinh hoa của Đất. Tại sao mỹ nữ? Đấy là tinh hoa của người.

Tại sao nói bốn nhân tố đấy? Bởi vì bất kì một Nữ Pháp sư nào cũng cấu thành từ bốn nhân tố đấy cả. Thân thể của một Nữ Pháp sư, thân thể của một đứa con gái út trong gia đình Thần Thánh, họ không bao giờ được cấu thành từ những thứ tầm thường. Con người thấy họ bằng xác thịt, họ không bao giờ cấu thành bằng xác thịt. Xương cốt của họ cấu thành từ sừng tê, cho nên nó không được cứng cáp lắm, có vẻ như nó hơi giòn, có thể nó dễ gãy, có thể nó dễ bị mài, bởi thế trông họ thường mỏng manh một chút. Đôi mắt của họ và tinh thần của họ được cấu thành từ kim cương nên nó hết sức cứng cáp, kiên định, nó hết sức phụng sự, hết sức phụng hiến. Toàn bộ da thịt được cấu thành từ nhân sâm, bởi vậy nên cô ta có thể trường thọ, có thể sống đến khi Sứ Mệnh kết thúc thì thôi, cô ta sống tuổi ngang với Đất, cô ta đến đâu thì mặt đất mở cho cô ta đi đến đấy. Và cuối cùng, vẻ đẹp của cô ta là thanh khiết, vẻ đẹp của Trời Đất. Luôn luôn là như thế, đấy là bốn phần cấu thành nên.

Nhưng khi nào thì một người có thể xuất thành? Để La Bình Công Chúa có thể tựu thành hình, đấy là cả một quá trình dài lâu. Để dưỡng được thai cho một Pháp sư xuất thế, cần phải mất ít nhất là 500 năm, khoảng 500 năm bắt đầu một Pháp sư mới tựu thành hình. Khi một Bố Cả muốn xuất hiện, con gái họ sẽ đến trước, 500 năm đấy con gái họ sẽ đến trước. Tất nhiên các truyền thống phương Tây thật kì lạ, người con trai xuất hiện thay cho Bố. Nhưng điều này lại là một truyền thống đặc biệt, nếu người con trai xuất hiện, nếu anh trai cả xuất hiện thì xuất hiện không phải để vinh danh Cha mà để cứu rỗi thế gian. La Bình Công Chúa xuất hiện không phải để cứu rỗi đời, mà để vinh danh Cha của nàng, thực hiện ý chí Cha của nàng tại nhân gian.

Cho nên khi nàng xuất hiện, nàng đẹp đẽ vô cùng. Người ta không biết nàng từ đâu đến, bỗng nhiên trong một gia đình nông dân nọ, trong một gia đình quyền quí kia, rất nhiều các truyền thuyết về nàng, bởi vì nàng xuất hiện nơi đâu thì nơi đấy trở thành quyền quí, nàng xuất hiện ở trong chỗ tăm tối nhất thì chỗ đấy trở nên rực sáng nhất. Có thể bắt gặp nàng ở trong mọi nguồn gốc, mọi điều mà nhân gian muốn nói về nàng, nàng ở trong một gia đình nghèo đói nhất, ở trong một gia đình giàu có nhất, trong một gia đình rất quyền quí, trong một gia đình nghèo mạt hạng, trong một gia đình của một kẻ say sưa, trong một gia đình của một chính nhân quân tử, điều đấy không quan trọng, bởi vì nàng có thể xuất hiện ở rất nhiều nơi cho đến lúc tụ thành một. Có thể là mỗi mảnh của nàng ở một nơi, thường là nàng ở bốn nơi cùng một lúc. Hãy tưởng tượng, có bốn người con gái sẽ mang bốn phần này của nàng: một người con gái mang sừng tê, một người con gái mang hột xoàn, một người con gái mang nhân sâm, một người con gái mang mỹ nữ. Khi nào thì họ gặp nhau? Bốn người này sẽ gặp nhau, họ sẽ có một lần gặp nhau.

Vào một thời điểm nọ rất đặc biệt, bốn người con gái đấy đã xuất hiện, họ đều tài hoa vô cùng. Một là Đông Cuông Thánh Mẫu, đấy là một người vô cùng quyền năng, người này ở Đông Cuông. Mạch núi của Đông Cuông - đấy là một vùng đặc biệt, vùng Tây Bắc, vẫn còn đền thờ Đông Cuông Thánh Mẫu, gọi là Đông Cuông Đền Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn. Nơi đến đầu tiên của nàng, Đông Cuông Thánh Mẫu, đây là vị mẫu đầu tiên, bởi vì khi xuất hiện nàng đã mang một quyền năng to lớn. Nàng có thể khiến cho Trời Đất đều biến loạn, nàng có thể khiến cho thiên tai bị đẩy lùi, nàng có thể khiến cho lửa phải lùi bước, tất cả hổ báo xung quanh vùng đe dọa dân chúng đều không dám tiến đến chỗ nàng. Nàng được gọi là Đông Cuông Thánh Mẫu, vô cùng hùng mạnh, nhưng gương mặt nàng rất đen đúa, gầy gò.

Người thứ hai mang theo bên trong mình hột xoàn, tinh thần của kim cương, não cấu thành từ kim cương, tuyệt vời, một tinh thần mạnh mẽ. Người này thường được gọi dưới cái tên là Thượng Ngàn Thánh Mẫu, vì nàng từ trên rừng xuống, nàng mang một tinh thần kì lạ, khủng khiếp, mạnh mẽ, gần như không tưởng được với tất cả mọi người. Nàng mang một tinh thần xuyên suốt đến nỗi mà tất cả các thi sĩ gặp nàng đều quì xuống. Khi nàng đến đâu thì ở đấy Đất Trời giống như rạp xuống, tinh thần của nàng vô cùng dữ dội, nàng vô cùng quyết liệt, bước chân của nàng có thể cắt cả đá núi, mỗi lần nàng đi đến đâu nơi đấy đều biến thành đường, tất cả yêu ma đều tránh xa nàng. Nàng được gọi là Thượng Ngàn Thánh Mẫu.

Người thứ ba được gọi là Lâm Cung Thánh Mẫu - Lâm Cung tức là cung ở rừng. Nàng từ một vùng rừng núi khá bằng phẳng, nàng bước lên. Người này mang trong mình nhân sâm, khuôn mặt nàng hơi già dặn, và nàng mang theo một quyền năng là có thể chữa cho bất kì ai, có thể chết biến thành sống, nàng có thể chiêu hồi sinh mạng, nàng mang đến thọ mệnh cho con người, khiến cho khi nàng bước đến đâu con người đều quì rạp đến đấy, mỗi nơi đều tôn thờ nàng.

Và người thứ tư, La Bình Công Chúa - La Bình Thánh Mẫu, có thể gọi như thế. Nàng ở một vùng xa xôi ở Thanh Hóa, ngày nay gọi là Cửa Đạt.

Trong quyền năng của họ, trong những uy tín của họ, đối với nhân gian lúc đấy không có điều gì vĩ đại hơn bốn nàng, thời đại của Liễu Hạnh ở phía sau lưng họ, họ vốn đang là những người vô cùng vĩ đại, quyền năng của họ vượt ra khỏi những giới hạn thông thường, vượt ra khỏi những nhánh tu Tiên Đạo có thể tưởng tượng được. Người ta có thể tu hàng nghìn năm mới có được một chút quyền phép, nhưng dường như các nàng đã sinh ra sẵn với quyền phép. Họ vô cùng quyết liệt, mạnh mẽ, họ đầy quyền năng, họ đầy phép thuật, đầy sức mạnh, đầy ảnh hưởng. Họ có thể khiến cho Trời Đất đều biến đổi, xét đến cùng vẫn là thế.

Rồi họ gặp nhau ở vùng Cửa Đạt bằng một duyên kiếp rất kì lạ. Bỗng nhiên một ngày, trong một giấc ngủ, tất cả bốn đều thấy một người, người đàn ông này trông to lớn, ánh mắt trầm mặc, thân thể của ông như luôn luôn đang hừng hực bốc cháy, ánh sáng của ông tỏa rạng rỡ vô cùng. Họ nhìn thấy nhau trong cùng một giấc mơ và người đàn ông này tiến về phía họ, đặt tay lên đầu họ nói là: “Các con, ta muốn gặp các con.” Thế là bốn nàng ở trong giấc mơ đều bật khóc. Họ chưa bao giờ bật khóc ở trong cuộc đời, bởi vì một Nữ Pháp sư không có quyền bật khóc, họ không bật khóc trước ai trừ Cha họ, họ không bật khóc trước ai vì điều thánh khiết của họ, và khi họ tiếp xúc với điều đấy, nước mắt họ cứ rơi ra. Họ cảm thấy trong trái tim họ có một điều gì nhói đau sâu thẳm, và họ biết rằng họ đang được gọi, họ biết rằng họ có Cha. Lần đầu tiên trong đời, họ biết họ thật sự có Cha, bởi vì họ biết những người mang thân phàm xác tục kia không phải là Cha họ, và họ bật khóc. Thế rồi ông nói với họ rằng: “Các con hãy đến vùng đấy (Cửa Đạt), sẽ có một hồ to lớn vô cùng, nơi đấy ta có để một vật, người duy nhất trong các con lấy được vật đấy sẽ sống, ba người kia sẽ chết.” Nói rồi người đàn ông đấy biến mất. Và họ nhìn nhau, trong một khoảnh khắc giấc mơ cuối cùng trước khi họ bị trả lại không gian thực, họ nhìn thấy nhau trong một sự thương cảm vô cùng, trong một sự đồng cảm không thể nói lên lời, không có sự đố kị, không có sự ghen ghét, không có sự sợ hãi, không có ý niệm về cái chết. Họ trở về thực tại trong một khoảnh khắc khi nhìn thấy nhau như thế.

Khoảng độ ba tháng sau họ cùng tụ tập bên hồ. Hồ rộng mênh mông, không một bóng người, không một bóng thuyền, dường như con người không thể tìm ra nơi đây, nó quá đỗi thiêng liêng, quá đỗi thánh khiết, quá đỗi hùng mạnh, không ai có thể đến được, xe ngựa từ cách đấy khoảng một dặm đã dừng lại rồi. Vùng Cửa Đạt, đấy là nơi gốc của huyện Thường Xuân, sau này sẽ là nơi xuất sinh Đế Vương họ Lê: Lê Lợi. Đấy là khởi nguồn của những huyền tích họ Lê. Quay trở lại, vào khoảnh khắc họ gặp nhau, lúc đấy tự nhiên Trời Đất đang âm u trở nên tỏa rạng, mặt nước đang thấp trở nên cao, núi đang trông mòn mỏi bỗng trở nên xanh tốt, cây đang héo úa tất cả đều nở hoa ra trái. Khi họ gặp nhau Thiên Tượng đều biến đổi, vì đấy là một khoảnh khắc khủng khiếp.

Họ cùng nhìn xuống dưới đáy hồ, sâu dưới đáy hồ có một viên ngọc rất lớn, giống như viên ngọc trai, cả miệng hồ giống như một miệng trai mở rộng, bên dưới là một viên ngọc sáng lấp lánh. Viên ngọc trai đấy chỉ nhỏ giống như đầu ngón tay, nhưng các vị Mẫu đấy đều quyền năng, họ đều có thể thấy ánh sáng đấy. Người thường mà thấy thì sao? Người thường chỉ thấy một mặt hồ phẳng lặng, tầm thường. Rồi lúc đấy Lâm Cung Thánh Mẫu lên tiếng: “Ta sẽ nhảy xuống trước, nếu các muội không thấy ta thì các muội không cần phải gọi ta nữa, người tiếp theo hãy xuống.” Nói xong Lâm Cung Thánh Mẫu nhảy xuống, nàng biến mất, chỉ thấy một chút sủi bọt lên từ đáy hồ, giống như hiến tế vậy. Một người thường mà nhìn cảnh đấy sẽ nghĩ gì? “Người này điên rồi! Nhảy xuống đấy chết rồi!” Nhưng đối với Lâm Cung Thánh Mẫu không có điều đấy, khi nàng chìm xuống, chỉ một chút tăm hơi, cuối cùng đã thấy nàng chìm rồi, cái ánh của viên ngọc trai ánh lên, trong Thiên Nhãn của mọi người nhìn thấy rực lửa màu hồng rạng rỡ.

Thế là Lâm Cung Thánh Mẫu đã đi, đến lượt Đông Cuông Thánh Mẫu ra, lại nói là: “Muội sẽ đi thứ hai, nếu như muội không nổi lên thì mọi người hãy nói với các con của muội, là muội đã ở đây và muội là một phần của tất cả mọi người.” Rồi Đông Cuông Thánh Mẫu nhảy xuống, lúc nàng vừa đi xuống thì có một con Giao Long xuất hiện, trông vô cùng dữ tợn, nó dài khoảng độ 15 mét, thân thể trông đầy gai sắc nhọn, và nó chộp lấy nàng, nàng chỉ nhìn nó mỉm cười. Khi con Giao Long chộp được nàng, nó nuốt trọn nàng vào trong bụng, rồi lập tức chui xuống dưới hồ. Mặt nước trông vô cùng dữ tợn, tất cả từng hơi nước một gợn lên như chuẩn bị một cơn sóng thần, rồi “Đùng!” một tiếng, tất cả từ dưới đáy hồ giống như một cú nổ lớn, toàn bộ nước dâng lên trên như từ đáy hồ có một vụ nổ, toàn bộ nước dâng lên trên dạt vào bờ. Một cơn sóng lớn cao mười mét giống như cuốn phăng mọi thứ đi, nhưng nước không chạm vào được hai Thánh Mẫu còn lại. Lúc đấy ánh sáng ở bên dưới trở nên màu sắc đen ảm đạm, và bắt đầu cây cối, tất cả thế giới xung quanh cũng trở nên ảm đạm.

Lúc đấy La Bình Công Chúa mới quay sang nói với Thượng Ngàn Thánh Mẫu là: “Đại tỉ xuống đấy với trái tim son sắt, với đan tâm, nhưng Đông Cuông tỉ xuống đấy với trái tim còn vướng bận Tình nhân gian. Giờ nếu chúng ta cùng xuống, nếu chúng ta chỉ cần lưu giữ một chút tình cảm, đau đớn, hi vọng, bất kể điều gì khiến Cha chúng ta, khiến Bố Cả của chúng ta không hài lòng, chúng ta sẽ phá hủy Ngài, chúng ta sẽ khiến cho sự có mặt của chúng ta ở đây trở nên vô nghĩa.” Rồi hai người nhìn nhau, ánh mắt trong khoảnh khắc đã hiểu nhau rồi, hai người liền nhảy xuống hồ, vừa nhảy xuống hồ thì từ trên Trời có một con Rồng vô cùng to lớn màu đen, Hắc Long từ trên Trời bay xuống, vừa định chộp đến hai nàng. Hai nàng nắm tay nhau, từ bên trong bàn tay nắm lấy nhau bỗng tỏa rạng ra hình một bông sen lửa rộng lớn vô cùng rồi nuốt hẳn lấy con Rồng đen, con Rồng đen trong khoảnh khắc đấy tan ra giống như tro bụi, không có một hình thức gì.

Nói rồi La Bình Công Chúa nhìn Thượng Ngàn Thánh Mẫu mỉm cười: “Chị em ta một khi đã làm việc lớn cho Cha, tất khiến cho Trời Đất đều rung động, yêu chủng các cõi đều tìm đến. Khi chị em ta xuống dưới đáy hồ, giả sử đồng tâm nhất trí có thể khai mở được sinh mệnh để phụng vụ Cha một lần nữa, thì tất từ nay sẽ đảm nhiệm những điều vô cùng to lớn, vô cùng mệt mỏi, và tất cả những gì chúng ta đã từng gây dựng ở nhân gian trở nên không còn có nghĩa nữa. Tỉ có sẵn sàng không?” Thượng Ngàn Thánh Mẫu mỉm cười nói: “Nếu như ta không thực hiện Sứ Mệnh này, cuộc sống của ta không còn ý nghĩa nào nữa. Bởi vậy muội hãy đưa ta xuống.”
Bởi vì Thượng Ngàn Thánh Mẫu không thể xuống được mặt hồ, bởi bàn chân nàng đã bắt đầu run rẩy, bởi vì nàng bắt đầu nhớ ra còn rất nhiều điều phải thực hiện. Nhưng trong khoảnh khắc run rẩy đấy, nàng biết rằng Sứ Mệnh của nàng thuộc về việc hiến sinh, để có thể đưa Cha trở lại thế gian một lần nữa trong hình hài của chính mình, đấy là điều nàng biết hơn hết. Nhưng trong khoảnh khắc đấy thật sự yếu đuối, thật sự yếu đuối bởi vì một Thánh Mẫu xuất hiện ở trên cuộc đời, họ không ngẫu nhiên xuất hiện, họ có rất nhiều mối quan hệ, họ có rất nhiều duyên nghiệp, họ có rất nhiều mối quan hệ với các chư Thần khác. Họ có rất nhiều điều cần phải giải quyết, tất cả những đứa con của họ, tất cả những người tin tưởng họ. Hôm nay họ đột nhiên xuất hiện ở đây, đột nhiên biến mất, vậy tất cả những điều đấy sẽ do ai đảm trách? Người còn lại cuối cùng sẽ không thể đảm trách điều đấy, bởi vì họ sẽ phải đảm trách những điều mà Cha giao cho họ, dưới hình hài của họ. Bởi vì Lời của Cha, bởi vì viên ngọc của Cha, bởi vì sinh mạng của Cha sẽ tái sinh dưới hình hài của họ, trong ý nghĩ của họ, trong hành sự của họ, các Cha sẽ trở lại trong các Pháp sư của mình. Cho nên nàng rất rung động, Thượng Ngàn Thánh Mẫu oai danh tột độ nhưng nàng bắt đầu run rẩy, còn bao nhiêu tộc người dưới chân nàng thì sao, bao nhiêu đứa con đã thờ phụng nàng thì sao? Nàng sẽ bỏ qua tất cả. Cho nên trong khoảnh khắc đấy, nàng trở nên hết sức yếu đuối, và nàng nói với La Bình Công Chúa: “Hãy đưa ta xuống.” Bởi vì nàng không thể tự xuống nữa, nàng không có đủ sức mạnh đấy, nàng yếu đuối và run rẩy biết bao.

La Bình Công Chúa mỉm cười nắm chặt lấy tay Thượng Ngàn Thánh Mẫu: “Chúng ta có sống thêm rất nhiều thời gian cũng trở nên vô nghĩa.” Nàng chỉ nói một câu như thế, rồi nàng cầm bàn tay và hai người lao xuống như một ánh sáng. Và viên ngọc nổ bừng ra một màu hồng rạng rỡ, xong rồi chuyển sang một màu da cam, rồi chuyển sang một màu xanh lá cây ngát, rồi rực lên một màu da cam, trở nên trong sạch hơn, rồi rực thành một màu hoàng kim. Rút cục từ dưới đáy hồ bay lên một thân thể nữ, cảnh này giống như Nguyên Anh của Trời Đất lúc đấy đã nở ra thành hình rồi, và lúc này bay lên hình ảnh, hình ảnh cuối cùng đấy chính là trông giống như La Bình Công Chúa. Nhưng không thể gọi nàng là La Bình Công Chúa được nữa, có thể gọi nàng là La Bình Công Chúa, là Thượng Ngàn Thánh Mẫu, là Đông Cuông Thánh Mẫu, là Lâm Cung Thánh Mẫu, bất kể tên gọi nào, nhưng không thể gọi nàng thế, chỉ có thể gọi nàng là: “Con gái của Tản Viên.”

Khi nàng xuất hiện, khi nàng bay lên từ tất cả những ánh sáng rực rỡ ấy, nàng đáp xuống đất, thì đôi chân nàng trở nên yếu mềm, nàng khuỵu xuống, bàn tay gần như không còn sức lực, khuôn mặt vô cùng đẹp đẽ. Nhưng lần đầu tiên bốn nhân tố này tổ hợp với nhau, lần đầu tiên con gái của Tản Viên đã xuất hiện. Nàng có xương cốt của tê giác, nàng có tinh thần của kim cương, nàng có da thịt của nhân sâm và vẻ đẹp của người thiếu nữ, của một Nữ Pháp sư. Nhưng từ nay nàng sẽ không có quyền năng nào cả, bởi vì lúc đấy là lúc vô cùng yếu đuối, bởi vì nàng phải dùng tất cả sự yếu đuối của mình để kìm giữ năng lượng lớn lao của Cha mình. Cho nên nàng sẽ vô cùng yếu đuối, nàng sẽ không thể được bảo vệ và nàng sẽ quên hết sạch mọi quyền phép, bởi vì từ nay nàng được tái sinh. Ánh mắt nàng ngơ ngác, nàng nhìn ra toàn bộ thế gian ở trước mặt, một vùng hồ núi mênh mông, một người con gái yếu đuối, không hề có sức lực.

Khi nàng vừa chợt đứng lên, thân thể trần truồng, thì có một con hổ xuất hiện trước mặt nàng, trông mặt nó vô cùng hung dữ, ánh mắt tỏa ra một tinh quang đen tối. Khi con hổ này vừa tiến đến gần nàng thì bắt đầu tất cả những muông thú ở trong rừng, từ những loài rắn đến các loài chim, lợn rừng, thỏ… rất nhiều loài cùng tụ tập trước mặt nàng, tất cả đứng chắn trước mặt con hổ, lượng thú càng ngày càng đông giống như một bức tường bằng thú, tất cả cản lại. Nàng không hiểu chuyện gì đang diễn ra nữa, nàng chỉ biết bước, và chân nàng vừa bước lên mặt hồ thì nàng nổi ở trên mặt hồ, nàng chạy đến đâu thì mặt hồ giống như những bước đệm, biến thành những cái bóng nước, những bông sen bằng nước đỡ chân nàng đến đấy. Và nàng cứ thế chạy thoát ra khỏi vùng đấy, sau lưng là con hổ dữ, bao nhiêu muông thú đặt niềm tin ở nàng, và nàng chạy mãi về phía ánh mặt trời.

Đấy là sự ra đời của La Bình Công Chúa.

La Bình Công Chúa cứ chạy mãi. Nàng là La Bình, bởi vì nàng lấy hình dạng của La Bình. Nàng cứ đi mãi đến lúc nàng ngất đi. Khi nàng tỉnh lại thì thấy đang ở trong một khu vực toàn những màu đá đỏ hết sức rực rỡ, giống như một cung điện bằng ngọc vậy, rồi nàng bước thêm một chút nữa, bên ngoài tấm biển của khu vực đấy có ghi ba chữ: “Hỏa Môn”. Thế là nàng liền bước vào bên trong, nàng thấy trên thân thể nàng bắt đầu xuất hiện những hình bóng như những bông hoa lửa, trông đẹp đẽ vô cùng, rồi bắt đầu những bông hoa màu ánh kim, vàng rạng rỡ, và nàng cứ bước như thế trong một nơi giống như là những hành lang của một cung điện khổng lồ bằng đá quý. Nàng cũng không biết là đẹp hay xấu bởi vì tư tưởng của nàng không rõ ràng, cho đến lúc nàng bước đến bên một cái ngai bằng đá rồi nàng gục xuống, và bỗng nhiên bao nhiêu kí ức của cả bốn người bắt đầu tụ tập về trong đầu nàng. Và nàng bắt đầu mở mắt, nàng bật thốt: “Đây là nơi của Cha ta từng ngự.” Rồi trên thân thể nàng bỗng nhiên xuất hiện một chiếc áo, một chiếc cánh áo màu xanh trông đẹp đẽ vô cùng, một chiếc áo màu xanh lá cây trông giống như gấm, sáng lấp lánh. Rồi nàng bước đến một cuốn ghi: “Hỏa Môn Bí Quyết”, nàng cầm cuốn “Hỏa Môn Bí Quyết” giở ra, bên trong có rất nhiều những điều được ghi chép về ý nguyện của Cha nàng, và nàng bật khóc. Nàng đọc đến đâu nước mắt rơi lã chã đến đấy, nước mắt rơi đến đâu thì trông nàng trở nên trẻ trung đến đấy, nước mắt rơi đến đâu thì da nàng lại hằn lên những vệt sáng long lanh đến đấy. Đấy chính là cái động nơi trước khi Nguyệt Quang giáng thế đã ở trong đấy cùng với Tản Viên Sơn Thánh, ở bề mặt nhân gian đấy là một nơi toàn bằng ngọc như vậy, ở không gian khác thì chỉ là một hang động bằng đá.

Thế là La Bình Công Chúa ngồi trong hang động tu luyện năm này qua năm khác. Nàng không biết bao nhiêu thời gian đã trôi qua, nhưng trong khoảnh khắc đấy, nàng cảm giác là một phần nào đấy như trong linh thức của mình, nàng vẫn dạo chơi khắp thế gian, nàng vẫn đi khắp thế gian, hiểu biết tất cả thời cuộc, nàng chứng kiến tất cả những tang thương, tất cả những điều do ma quỷ gây ra, tất cả những điều xảy ra ở trong dưới mạch chân của Cha nàng, ở trên thân của Cha nàng, của Tản Viên Sơn Thánh, nàng biết tất cả những điều đang diễn ra như thế.

Một ngày nàng bỗng cảm thấy trong tâm hồn vô cùng xúc động, rồi nàng thấy có hai người khác tìm đến. Một người mặc áo màu trắng, trông người này vô cùng rạng rỡ, ánh mắt rất tươi vui, giống như là thân thể người ta nối thông với Trời; và một người mặc áo màu đỏ, người này giống như tỏa ra một hơi ấm, ấm áp vô cùng, giống như có thể kết nối vạn vật. Hai người này tìm đến, thế là ba nàng chào nhau, rồi giống như họ đã biết nhau vậy, họ cùng ngồi xuống và nhìn vào ánh mắt nhau, họ cứ nhìn vào ánh mắt nhau mãi như thế cho đến lúc họ ngồi trên ba bông sen bằng lửa, bay lên bầu trời. Đấy là sự ra đời của Tam Tòa Thánh Mẫu.

Thân của các nàng tất cả đều cấu thành từ sừng tê, kim cương, nhân sâm, mỹ nữ. Cho nên hẳn là nếu là Pháp sư, chắc là phải đẹp lắm nhỉ?

Sứ Mệnh mà La Bình Công Chúa và hai vị Thánh Mẫu được nhận, họ quản ba điều: thứ nhất là tất cả vùng trời phía bên trên Tản Viên, đấy là vị Mẫu màu trắng, Mẫu Thiên – Thiên Y A Na. Thứ hai là tất thảy con người sống ở trong vùng bao bọc của núi, núi giống như những cánh tay lớn ôm trọn những vùng đồng bằng rộng lớn, những vùng duyên hải, những vùng biển, tất cả những điều đấy thuộc về phần quản của mẫu Liễu. Thứ ba là để chống lại tất cả những sự xâm phạm từ bên ngoài, tất cả những sự làm biến đổi, xê dịch sông núi, đấy là nhiệm vụ của Mẫu Thượng Ngàn – La Bình Công Chúa.

Câu chuyện của Mẫu La Bình là câu chuyện của sự hiến sinh, sự hi sinh. Giống như trong một đất nước, quân đội là lực lượng hi sinh trước tiên, đấy là lực lượng của sự phụng hầu, phụng hiến, đấy là một lực lượng để bảo vệ bằng tất cả tấm thân của họ, trong khi một đằng sẽ bảo vệ bằng tất cả sự tài năng của họ, và một đằng bảo vệ bằng tất cả thiên chất của họ, trí tuệ của họ. Trong ba người đấy, Mẫu Thượng Ngàn – La Bình Công Chúa giống như sức mạnh, giống như thể chất, Đệ nhất Tiên Thiên Thánh Mẫu Liễu Hạnh thì giống như trái tim, và Mẫu Thiên thì giống như lí trí, giống như Thân - Tâm - Trí vậy, ba lớp đấy bảo vệ một thế giới chúng sinh. Con người luôn luôn cần sự bảo vệ, luôn luôn có những vị Thần đang dùng toàn bộ thân thể mình, những đứa con của mình để bảo vệ tất cả những điều đấy. Họ dùng những Nữ Pháp sư của mình để thực hiện nhiệm vụ của họ, cũng giống như Như Lai dùng Bồ Tát để thực hiện những Sứ Mệnh mà Như Lai cần. Con người đang sống ở trong những ơn huệ thiêng liêng bằng sự vô ơn một cách tráo trở. Trong khi con người đáng lẽ phải biết được sự bảo vệ đấy, biết ơn nó, đồng hóa với nó, là một phần của nó, thì con người bình thường thường sống trong những tính toán căn bản nhất, bằng Danh – Lợi – Tình, bằng sự từ chối Thần.
Trong phép tu luyện thường có ba loại người: một loại người xứng đáng trở thành Thần, một loại người có thể dẫn người khác trở thành Thần, một loại thứ ba – loại sinh mệnh thứ ba, có thể quản lí Thần. Trong nhà Phật gọi ba sinh mệnh đấy: có thể quản lí được Thần, đấy là Phật, quản lí tất cả các linh thể dưới ông ta; có thể dẫn người khác thành Thần, đấy là Bồ Tát; và có thể trở thành Thần, đấy là La Hán. Ở đây cũng vậy, La Bình Công Chúa chuyên giúp những ai có thể trở thành Thần. Mẫu Liễu Hạnh chuyên để đảm nhiệm và để dẫn dắt những vị Thần khác, những người để họ đi dần đến con đường thành Thần. Và quản lí tất thảy các Thần, đấy là Mẫu Thiên, quản lí tất cả sự tồn tại của họ.

Nhưng ở trong sự xuất hiện của Tam Tòa thì họ đồng đẳng, họ không phân chia, bởi vì họ thể hiện ba ý chí của chư Thần. Ý chí thứ nhất của chư Thần là: dẫn lối cho tất cả các Linh Thần, cho con cháu, cho đệ tử, cho Môn Phái. Ý chí thứ hai dùng để dẫn lối cho những người đấy có thể tu thành. Ý chí thứ ba: để dẫn dắt những người có duyên đến với Môn Phái. Đây cũng chính là ba phần của Độ nhân. Ba phần của Độ nhân bao gồm: thứ nhất là dẫn người có duyên đến với tu luyện, tìm được người có duyên hoặc là gieo cái thiện duyên cho họ; phần thứ hai có thể dẫn họ tu luyện được. Đầu tiên là dẫn họ đến Môn Phái, sau đấy có thể dẫn họ tu luyện, sau đấy có thể khiến cho họ thành Thần, đấy là ba ý chí của chư Thần. Ba ý chí này xét thế nào? Đồng đẳng. Dẫn người ta đến cũng cao quý như giúp người ta tu, cũng cao quý như giúp người ta viên mãn, bởi vì đây là ba ý chí của chư Thần, vì một người phải làm cả ba và cũng có thể là ba người làm ba việc. Nhưng dù thế nào, đây là chỉ thực hiện những ý chí của chư Thần, cho nên điều đấy hết sức vĩ đại, hết sức cao cả. Bởi vì khi họ muốn làm theo ý chí của Thần, họ chính là một phần của Thần, họ chính là Thần.

Sự xuất hiện của Tam Tòa Thánh Mẫu, đấy là sự xuất hiện của ý chí của chư Thần tại nhân gian, sự xuất hiện của Chân Thần tại nhân gian. Họ sinh ra để bảo vệ cõi này, để cõi này có thể duy trì giống như nó nên là. Chư Thần tối linh trích xuất ra ba đứa con gái này, để ba ý chí này có thể trở thành dưới hình dạng ba Nữ Pháp sư, đấy chính là tinh thần của các Ngài. Và nếu tinh thần này bị ô nhiễm, nếu ý niệm này bị ô nhiễm, chính các Ngài cũng sẽ bị ô nhiễm; nếu ý niệm này bị hủy hoại, chính các Ngài cũng sẽ bị hủy hoại, nếu ý niệm này bị tổn thương, chính các Ngài cũng bị tổn thương. Nhưng các Ngài không thể ở đây bằng Chân Thân của mình, bởi vì nó sẽ khiến cho các Ngài rơi vào trong mê, các Ngài ở đây bằng sự thánh khiết của mình, vì thế các Mẫu đã ra đời. Truyền thống ra đời của các Mẫu là một truyền thống xuyên suốt mọi dân tộc có núi đá, bởi vì Bố Cả luôn luôn xuất hiện với những đứa con gái của mình. Ngài có cách để hợp nhất với họ, Ngài có cách để truyền thêm Thần Khí cho họ. Nhưng dù lúc nào đi nữa, điều quan trọng nhất: ai trong số họ - giống như câu chuyện của La Bình Công Chúa - dám phụng sự các Ngài, ai là người đến cuối cùng thấy là nếu không thực hiện Sứ Mệnh thì mình không mang một ý nghĩa nào cụ thể cả, đấy là những người phụng Thần, đấy cũng chính là thể hiện uy đức lớn lao của chư Thần. Cũng như La Bình phụng sự Tản Viên Sơn Thánh.

Tất nhiên bằng sự xuất hiện của mình, bản thân họ không thể hiểu được một điều. Khi các Thánh Mẫu xuất hiện, tự họ không biết rằng sự tồn tại của họ chính là sự tồn tại của chư Thần. Họ chỉ biết họ đang dâng phụng, họ chỉ biết là bằng những điều cao quý nhất của mình, họ sẽ thực hiện ý chí của Thần. Họ không biết họ chính là Thần hiện thế trong hình hài của họ, họ không thể nghĩ được như thế. Chỉ khi những Sứ Mệnh kết thúc họ mới phát hiện ra điều đấy, họ mới biết được rằng mình thực sự là một phần của Thần bằng cách thực hiện không gì khác ngoài Ý chí của Thần. Và việc thực hiện Ý chí của Thần là một công cuộc hung hiểm. Bởi vì họ bằng ý chí của họ, họ phải tự lĩnh ngộ Ý chí của Thần và thực hiện theo nó. Bởi vì dù họ quyền phép đến đâu, họ vẫn chưa phải là một vị Thần đích thực, họ vẫn phải sử dụng một sự kém hơn Thần để thực thi một điều mà Thần muốn, và sau khi hoàn thành điều Thần muốn họ mới có thể trở về với Thần, và phải thực hiện đủ những điều Thần muốn họ mới có thể đột phá lên một tầng, đem thân thể của mình lên một tầng cho đến lúc họ trở về với Cha của mình, và họ ở đấy vì những Sứ Mệnh. Họ ở đấy bởi vì Sứ Mệnh, bởi vì sự khẳng định sự tồn tại của chính Cha họ, và họ một lần nữa, họ không thể biết được rằng sự tồn tại của họ là sự tồn tại của chính Cha họ. Đây là một điều họ không thể tưởng tượng nổi, và ngay cả khi biết sự thật này, họ vẫn không thể tồn tại như thể mình là một phần của Cha họ. Bởi vì họ vẫn nghĩ mình là một chủ thể riêng biệt, họ vẫn ăn uống đi lại, họ vẫn phải hành sự, họ vẫn phải được gọi tên, họ vẫn phải đem danh của mình ra để đối đãi với mọi việc, họ vẫn phải xử lí với tư cách mình là một ai đấy. Cho nên họ biết nhưng họ không thể tưởng tượng nổi, họ không thể đồng nhất nổi vào cái khoảnh khắc khi những Sứ Mệnh đang còn kéo dài, họ không thể nghĩ mình chính là Cha, họ không thể biết điều đấy. Và ngay cả biết, nhắc lại, họ cũng không thể sống với điều đấy.



Nhưng đấy là một cuộc đời Thần Thánh và tuyệt vời đúng không?