Phẫn Nộ Đại Tôn Giả

Phẫn Nộ Đại Tôn Giả

Thứ Năm, 21 tháng 7, 2016

Phù Vân, Thế gian (05)

Âm Tiên đứng trước một cửa thành, băn khoăn nhẩm tính. Thằng bé đợi một lúc lâu bất nhẫn cất tiếng: "Sư Phụ, nơi đông người này không tốt cho người tu Đạo, chúng ta chẳng phải nên rời đi sao? Nãy giờ con thật lòng khó chịu, nơi đây người ta tỏ vẻ đạo mạo vậy mà lòng dđộc ác, hung khí hườm sẵn trên mặt, tuồng như chđợi thời cơ hành ác." Âm Tiên thở dài bảo: "Nhưng ngươi là phải đến đây. Tiểu tử, nơi này nguyên là đường dẫn lên cõi Đại La." "Thảo nào con nhìn từ xa đã thấy tinh khí tụ lại như Kim Long, thoắt thấy sông hđều có bóng dáng Thủy Long, nhưng đều nhiễm ô trọc của người thường, Sư Phụ, sao mà con người dám đến đây lập nhà cửa, nói chuyện phàm? Con đồ rằng những kẻ ác khí ấy thật sẽ dị nghị Thần linh, phỉ báng tín tâm, hủy hoại Đạo lí. Làm sao các vị Hộ Pháp lại để con người tràn vào đây vậy thưa Sư Phụ?" Âm Tiên ngước nhìn Trời, lẩm nhẩm: "Hoàng Thiên hữu nhãn, vì đưa thằng bé đến đệ nhị Long Địa, ta lại phải đến nơi đây một lần nữa." Nói đến đó bất giác Âm Tiên ngẩn người. Thằng bé im lặng một lúc đoạn cất tiếng: "Sư Phụ, người là thế ngoại tiên nhân, đứng ngoài nhân thế, tại sao còn mang tâm tình đến thế?" "Tiểu tử, trên Linh giới còn có Thiên Đình, trên Thiên Đình có Đại Thiên Đình, trên Đại Thiên Đình có Chí Tôn Đường, trên Chí Tôn Đường còn có nơi cao nữa. Vậy mà là trong Tam giới, lại chưa xuất khỏi Tình. Có điều Tình ở mỗi cảnh giới của Tam giới lại khác nhau. Ta thật chưa tuyệt tích khỏi phạm vi của Tình."

"Sư Phụ, tuyệt tích khỏi phạm vi của Tình, nghe thật kì diệu." "Ngươi biết nghĩ lắm. Tình là một sinh thể, rộng mà nhỏ, lớn mà bé, tràn ngập mà len lỏi. Trong phạm vi của Nó thì là như nó, vật trong nó thì ăn thở vạn việc đều dùng Tình mà diễn hóa. Tình vô hình mà trải khắp, lại biết truy dấu người ta, hễ muốn tách khỏi nó, nó càng truy cho bằng được. Ai sống trong cõi Tình thì nợ Tình, hễ ở đây thì đã là nợ rồi, có nợ phải trả, nợ nặng phải đền, càng muốn xa Tình thì càng phải đền lớn. Vậy nên con sau này khéo vô hình thì sẽ khéo vô tình, Tình sẽ không lôi kéo hãm đọa con được." "Sư Phụ, hôm nay người nói chuyện thật hiền từ khác với mọi ngày. Con có điều không rõ: vô hình mới vô tình được sao?" "Tiểu tử, đừng dùng tình mà nhận xét người khác, đừng dựa vào Tình của vạn vật mà phán xét vạn vật. Đá nhỏ lăn lóc có khi là Thạch Tâm, đồ quý được đeo tìm hóa ra lại vô dụng. Lại nói cho ngươi biết, vô hình mới vô tình được, đó là khẩu quyết tu luyện trong môn phái chúng ta. Giống như ta nói, bỏ chấp trước con mới có trí huđược." "Con hiểu, mà tuồng như sau điều ấy áo diệu sâu xa." "Vậy con cứ nhớ lấy, khi gặp khó nạn tất biết đâu là lđúng."

Thằng bé chợt tái mặt: "Sư Phụ bảo con gặp khó nạn, con không sợ khó nạn, chỉ xin đừng bắt con sống ở nơi này, sao mà chướng khí nhân tâm dày đặc, thật đáng chán ghét." "Có người phải bắt lánh khỏi Tình mà trừ Tình, có kẻ phải nhúng vào Tình mà biết bỏ Tình. Ngươi từ bé sống với người tu Tiên, lâu dần đã quen một cảnh giới của Tình, vậy nên khó trừ bỏ, phải cho ngươi vào tạp thế hỗn loạn, thấy biết mọi chủng Tình, mới thật trừ bỏ được cội rễ Tình trong ngươi." "Thưa Sư Phụ, đạo lí này phải chăng quá đỗi kì dị? Con thường nghe áo khéo giữ thì không bẩn, người khéo tu chớ nhuộm Tình, nay Sư Phụ cho con vào chỗ bùn đất, lại bảo con khéo giáo trắng sạch, thì con biết sao đây?" "Tiểu tử, ngươi có biết tại sao nhà Phật cho người ta tu tập trong tăng đoàn, rồi lại bắt người ta lang thang nơi cõi tục không? Là vì lâu ngày giữ người tu xuất phát một loại Tình, loại Tình này dung dưỡng tình trạng tu luyện của họ, khống chế họ, do đó từ ấy mà đi lên thì càng đi càng khó, thậm chí vài trăm năm không tu lên được, nhiều hơn cũng không tu được, bãi bể nương dâu đổi qua tráo lại nghìn lần vẫn đang ẩn mật bế tắc. Ta nói con hay, tình huống của con thì tu luyện như giặt áo, không phải là càng nhúng vào chỗ sạch thì càng sạch, mà là trong một nước ấy phải làm con khđau mà nhận thức, thật sự trừ bỏ các loại tình. Đừng nói là con không tạp nhiễm, thậm chí ép con phải vào hoàn cảnh như tạp nhiễm mà dám thanh sạch."

Thằng bé nuốt nước bọt, dường như đã kiệt ý: "Sư Phụ, con thấy lần này con sẽ bị trầm mình vào thế tục, e là khó mà bứt ra được." Âm Tiên cười bảo: "Ngươi vì trăm họ mà đây, trong ba chữ Lê Dân, Bách Tính, Đại Gia đều có nghĩa là Trăm Họ Dân Chúng, ngươi thích lấy tên nào?" "Thưa Sư Phụ, sao con lại cần tên?" "Trước đây các vị dạy ngươi đều không muốn ngươi có tên, muốn ngươi vô danh, vì Vô Danh gần với Vô Hình, do đó gần với Đạo hơn là Hữu Danh, nhưng nay ở nơi thường nhân, ngươi cần đến Danh Tính." "Con hiểu điều ấy, nhưng sao lại bảo con vì chúng sinh, chúng ta có độ nhân rộng đâu thưa Sư Phụ? Lại nữa, con thật khó nghĩ. Hữu Danh tất là cửa của Tình, có tên tất muốn gắn tên ấy lên quan hệ với người khác, lại gắn lên sự tồn tại của vật khác, chấp vật chấp tình tham ái tham dục đều sẽ mạnh lên tđó. Giờ con đã bị vứt nơi người thường, lại còn Hữu Danh nữa, thì thật ra là sẽ ra sao đây? Con không sợ chết, chỉ sợ phải lìa Đạo."

"Nước ở nơi ta đã cạn, con là phải đến nơi này. Chđa ngôn, con chọn tên nào đây?" Thằng bé ngơ ngẩn, bỗng mỉm cười: "Thưa Sư Phụ, thủy kiệt là quẻ Cấn, dời đi là quẻ Tốn. Thấy núi là cùng đường, Trời đất tuồng như đã tận, con người đừng sống thì Thiên Địa được tốt. Hiềm vì Đạo thì Sinh Sinh bất diệt, nên Cấn lại còn có Tốn, từ đó có Sơn Khí truyền đi, không phải là gió, không phải là nước. Vì Sơn Khí muốn bốc lên phải có chỗ dung hòa gió nước, đó chính là Cây. Thường nghe Cây nhỏ thì như thường, lớn lên ảnh hưởng đến quang cảnh cả vùng, đây chính là chĐạo Lí của Chân Nhân: khi tu thì vô danh, hiện thế thì làm Thiên Hđều biến chuyển, mang cái Đạo của riêng Trời Đất thuần khiết mà làm cải biến con người. Vì từ Sơn Khí đến tỏa phát đều lớp lớp sự vụ như thế, nên nói quẻ này là Phong Sơn Tiệm, nghĩa là nghi lđầy đủ, đúng mực thước an bài của Trời Đất mà biến cải Nhân gian. Con lại trộm nghĩ Cấn thuộc Âm Thủy, là nước nơi sâu nhất đẩy đất lên thành Núi, nên Tốn ứng với nước này là Âm Kim, thứ tinh hoa nhất trong lòng đất, chính là điềm Vàng đến Nhân gian, đọng trên núi lớn, chỉ kẻ được ban truyền mới biết được Ngọc ở nơi đâu, đây là chỗ quý nhất của Long Mạch, chính là Ngọc Rồng. Thưa Sư Phụ, lần này theo điềm của Thiên Địa, là người muốn con biến cải nhân gian chăng? Lần biến cải nhân gian này, là muốn con làm Vua mà biến cải Nhân gian đây chăng? Tốn có hai vạch Dương, Cấn có một vạch Dương, vậy là có ba vạch Dương. Sư Phụ bảo con chọn một trong ba tên, là vì lần này ngoài con ra, còn có đến hai người nữa ứng mệnh Đế Vương chăng? Nhưng con biết phàm đã tu Đạo đừng làm Vương Chủ, con thật bối rối không rõ ý của Sư Phụ?" "Ta bảo ngươi chọn thì nên chọn, đón ý của ta làm gì vậy? Lẽ nào ngươi gọi ta là Sư Phụ, mà ta không vì sự tu luyện của ngươi chăng? Tiểu tử, ngươi học với Không Lộ tuy tiếp thu nhiều lẽ, mà thành ra tư ý cũng mạnh lên, thấu biết một chút đạo lí, thành ra tự cho mình đạo lí, sau này chớ như vậy."

"Thưa Sư Phụ, con thật mang tội với Đạo. Lê Dân là Lê, Bách Tính là Tính, Đại gia là Đại. Con nguyện làm người cải biến Long Địa, nhưng chỉ vì bảo vệ Đạo mà làm điều đó. Con thấy làm người là Khổ, trăm hđều lầm than, nên chọn Lê làm họ. Nguyện vệ Đạo, xin chọn Duy Hộ làm tên." Âm Tiên nhìn thẳng vào mắt thằng bé, đoạn bảo: "Vệ Đạo không bằng Trợ Đạo, vậy ta đặt tên con là Duy Hựu. Từ nay ở nhân gian, tên con là Lê Duy Hựu, nhớ đừng quên tên do ta ban. Ấy là vì Mệnh và Nguyện của con mà ban tên ấy."

"Con xin được nhận tên Lê Duy Hựu, con kính tạ Sư Phụ, tuyệt không từ nan."

Năm ấy Lê Duy Hựu 9 tuổi, đã tinh thông các Thuật Phong Thủy.

Thứ Ba, 19 tháng 7, 2016

Phù Vân, Thế gian (04)

Thằng bé bực bội thốt lên: "Nhị vị Sư Phụ, con thật không hiểu nổi. Đã 100 ngày đây, hai sư phụ không dạy cho con chút gì về huyền thuật, tiên pháp, toàn bắt con ăn khổ mặc mỏng. Kìa, trời đã đến buổi nắng lớn dương nhiệt giáng hạ cực mạnh, vậy mà con suốt ngày phải phơi ngoài nắng, lại còn phải học làm ruộng. Con thật không hiểu nổi sao phải hạ mình đến thế. Lại nữa, đang là Hạ Chí, nông dân các xứ hẳn phải đang gặt rồi, vậy mà các Sư Phụ bắt con đi cày đất, con thấy thật tốn công phí sức. Con đã không ăn ngũ cốc, giảm nhẹ lương thực, thì việc gì phải tốn công cày cấu dự liệu vụ mùa gì nữa, người tu Tiên lẽ nào còn khó khổ hơn người thường? Xin hai Sư Phụ xóa cho con việc ấy." Dương Tiên xoa đầu thằng bé, đoạn bảo: "À, tháng hai âm hỏa tốt lành, tháng ba dương mộc khởi phát, gặp đúng tháng tư âm kim có thể hòa vào mà không bâm hỏa khắc cũng không tổn hại dương mộc, được thế thì chđến tháng năm có thể thu về địa khí tinh hoa, tháng sáu có thể an nhàn mà xử lý nốt. Vì rất tốt thế nên cá nhân ta chỉ thích lúa xuân. Con không ăn thì không gặt, không gặt thì đi cày. Gặt để lấy cho mình. Cày để lợi cho Đất. Con không làm lợi cho mình mà làm lợi cho Đất, được sự tốt thế sao lại trách ta?" Âm Tiên lắc đầu: "Ông nói thật không hết nhẽ, thằng bé nó không chịu được Khổ nên bắt nó bỏ cái cảm thức Khổ trong tâm ra, chưa để Thân hợp ứng với Thiên Địa nên bắt nó đứng dưới Trời mà không thấy Ngại, đi trên Đất mà không thấy Mệt, thế thì tay phải giữ cày, chân phải giẫm vào đất xới. Này tiểu tử, vào khi tháng lúa xuân đến buổi gặt, tinh hoa bay lên, con cày trời nắng chẳng phải lấy được cái tốt của Trời, cái lành của Đất thì là gì. Được chuyện tốt không cảm ơn chúng ta, sao lại dám oán trách?"

Nó lại gắt lên: "Con đã thông thạo sự chuyển biến Thiên Địa, muốn biết mùa nào tinh hoa tháng nào chuyển vận đều có phương cách. Chuyện Khổ hay không Khổ là xem khi con tồn tại có vấn đề gì không. Con chđộng Khổ thì được gì? Chuyện lớn con không được học, học mãi chuyện nhỏ thì được gì, hai Sư Phụ xin cho con đường đúng lối hay." Dương tiên mỉm cười: "Con thấy nước tụ thành ao hồ, nên bỏ quên lẽ Sông Bể. Con thấy nắng quên Mặt Trời, thấy đèn quên Trăng, thế có nên không? Bảo con làm là do bọn ta bảo, tất có nguyên ý lớn nữa con không hiểu được, nào phải con tự nguyện? Phàm tự nguyện làm thì là để Thành Tựu, còn làm theo chỉ bảo là để Học mà được Biết. Nên nói rằng có Dạy thì có Học, Học mà có Hành thì có Ngộ, Ngộ mà đủ thì Viên Mãn, con chưa hiểu ý đó sao?" Âm Tiên nghiêm mặt nói: "Con không cày cấy sao hiểu được sự thịnh hợp hay phân rẽ của con người với Thiên Địa, đã không hiểu thì nói chuyện Thiên chuyển Địa biến thế nào? Ta không phải là muốn con biết cày cấy, mà là muốn con hiểu cái lý ấy. Để xem chức nghiệp khi tương phối với con người thì tâm tính ý mệnh khí vận số phận người ta ra sao. Con bảo đã hiểu lẽ vận hành, có biết bát tiết lục khí ảnh hưởng ra sao tới chu trình Thiên Địa, lại là chứng Đạo ra sao không?" Nó lắc đầu: "Lời hai Sư Phụ nói con đều hiểu, những việc đó khi thuận hợp hành sự với Thiên Địa con khắc biết, sao lại bắt con học trước tiên? Con nghe rằng kẻ lớn biết lớn nên hiểu nhỏ, người nhỏ biết nhỏ nên quên lớn. Giờ con cứ cày bừa như vậy, có đả thông được tâm tưởng cũng là đả thông tiểu sự, đại sự sao thấu biết đây?" Dương Tiên bật cười: "Tiểu tử, vậy thức ăn ngươi dùng là ta dùng phép hóa ra cho ngươi hả?" Âm tiên liền chen vào: "Ông đừng nói vậy, thằng bé nói chuyện lớn, nên cho nó hiểu rõ cái lý lớn, đừng quay về lý nhỏ."

 "Thưa Sư Phụ, vậy trước khi con ở đây thì hai người cũng cày cấy mà ăn sao?" Dương Tiên đáp: "Ăn là ngươi ăn, ngươi muốn sống thì phải có thực phẩm, muốn có thì phải dùng sức của mình mà thực hiện, sao lại cứ tìm cách chất vấn bọn ta? Ngươi có biết cái tính so đo này khiến ngươi không chú trọng được việc của mình, sau này sẽ sa đà lạc lối không?" Nó nghe vậy chợt giật mình đứng lặng, nghĩ thầm: "Lạc lối thì viễn li Đạo, ta sao có thđể mình viễn li Đạo đây? Thực nguy hiểm." Nghĩ vậy liền cúi đầu lạy mà rằng: "Con thật sai trái, kì như chỉ cốt bảo vệ tư ý của mình mà chẳng lí đến thực Đạo." Âm Tiên cười bảo: "Tiểu tử, trước đến giờ, Sư Phụ môn nào cũng đều xem xem đệ tử rốt cuộc là dễ bảo, dễ dạy hay khó học." "Xin Sư Phụ giảng cho con lẽ ấy." "Khi truyền môn phái của mình ở nhân gian, các vị của môn ấy thường phải an bài một tiêu chuẩn để nhận đệ tử, đó là phần lí lẽ. Phần thực hành là cần xem xét trong một thời gian, nhìn nhận người có nguyện tu ấy phụng theo các tiêu chuẩn đó mà hành sự nhưng lại không được biết rõ các tiêu chuân ấy thì có đảm bảo được không, có giđược không, có theo đúng không. Mỗi điều giữ đúng lại được cấp cho thêm một thứ, đủ một bộ những thứ được cấp ấy mới cho vào làm đệ tử. Nếu mãi mà không đủ, thì dù người đó có bám vào cửa Đạo, thật chỉ là người thường. Dĩ nhiên môn nào cũng đều có cách loại trừ những kẻ mãi bám vào cửa Đạo mà không đđức tính để nhập Đạo." "Con ngộ tính chưa cao, nhưng dường như trong lời của Sư Phụ là ý nói nếu nhiều kẻ không đủ tiêu chuẩn dồn lại, thì chính là gây ra vấn đề chăng?" "Có Ngộ tính. Trong số những kẻ bám mãi vào cửa Đạo mà không chịu rời, thể nào cũng xuất sinh những kẻ tích lũy lấy một phần tâm thái tiêu cực lớn nhất, sâu thẳm là lạc lối rồi, nhưng không chịu thừa nhận, dù biết mình chưa thật tốt mà không dám nhìn nhận điều ấy. Những kẻ ấy khi đơn lẻ thì chỉ biết kích động người khác, khi tụ tập lại với nhau sẽ kết thành bè phái, phá hoại cửa Đạo." "Thưa Sư Phụ, chúng muốn phá hoại cửa Đạo, nhưng không thể phá hoại, chỉ là lôi kéo nhân tâm, chính là muốn nhân tâm của mình rộng ra, tạo thành một cái chướng để không ai thật có thể nhập Đạo phải không ạ?" "Đúng vậy, chính là vì tình huống ấy, trong lịch sử nhiều môn phái đã rút hẳn vào không gian khác, rừng sâu núi thẳm, kể cả những môn phái Phật gia rất lớn."

Thằng bé trầm ngâm, đoạn lại cúi đầu thưa: "Con lại có điều bất ngộ, kẻ đến với cửa Đạo là hữu duyên, muốn tu, tâm ấy tốt đến thế, tại sao lại biến chất được." Âm Tiên lại đáp: "Tiểu tử biết nghĩ, chúng biến chất là do ban đầu đến với Đạo tuy có thể có điều tốt hơn người thường, nhưng lại không tốt so với tiêu chuẩn môn phái. Muốn nhập Đạo, phải nâng tiêu chuẩn lên. Chỗ không tương xứng giữa thực trạng của chúng và tiêu chuẩn của môn phái là một quan mà chúng phải vượt được, không vượt được thì sẽ suy sụp. Do đã thâm nhập đến gần cửa Đạo, chúng đã mượn được hình thức của Đạo theo ý hiểu của chúng, nên về hình thức dường như phân biệt với nhân gian, khiến những người hữu duyên đang tìm đến không phân biệt được, bị chúng lôi kéo mà không tự biết, rốt cuộc có thể biến chất, hủy mất cơ duyên." "Thưa Sư Phụ, chẳng phải phất tay có thể khiến đám bại hoại đó tiêu tan ư?" "Tiểu tử, mở miệng là sát nghiệp sao? Cửa Đạo càng cao, tôn nghiêm càng lớn, càng để xem xem ai tự có thđến. Chướng ngại nhiều lên là hoàn cảnh khó nạn hơn, trong đó lại càng chọn theo Ngộ tính. Có bên thì tìm cách giảng rõ ra để trợ cứu người hữu duyên. Có bên thì chọn không can dự vào nhân gian, chỉ xét theo Ngộ tính, vì lđó phân ra Phật vào Đạo. Này tiểu tử, không phải điều đó là lợi, chúng ta đã thấy rõ khi tình huống tồi tệ đi, thì ở nhân gian sẽ có sự viễn li phân rẽ cực lớn gây ra xung đột giữa Thiện và Chân, đó cũng là Mạt Pháp rồi." Thằng bé ngây người ra, đoạn nói: "Sự tình mà Sư Phđang muón nói cho con thật bao la vô tận, thoạt nghe là trực sự, ngẫm một chút là vô số lí trong lí, ý trong lời, con thật mù mịt. Thưa Sư Phụ, kẻ dễ bảo khác kẻ dễ dạy thế nào đây?" Dương Tiên nhìn thằng bé bảo: "Kẻ dễ bảo thì nói là làm. THật không cách Đạo là mấy. Kẻ dễ dạy nói là hiểu, thật có Ngộ tính. Kẻ khó dạy bảo thì dẫu có làm cũng phát sinh suy niệm tư ý, nhiều khi là phá hoại mà không tự biết." "Ah, con đã hiểu thưa Sư Phụ."

Vừa nói đến đó Dương Tiên lướt đến như một ánh chớp, đã tát thằng bé ba cái, nó ngã ngửa ra đằng sau, mồm rỉ máu, má đỏ ửng. Nó bò dậy, phủi áo, cúi đầu, rồi thưa rằng: "Khi ngã xuống con có một chút oán niệm. Lúc ngồi dậy con hiểu ra rằng miệng nói tuân lời, hiểu mệnh, thật ra vẫn muốn bảo vệ mình, nâng cao thành tựu cho tư lợi của mình, đến lúc ngộ sự lại phát tác. Nghĩ đến oán niệm vừa rồi, con thật xấu hổ." Dương Tiên xoa đầu nó bảo: "Biết sai tất sửa được." Âm Tiên lạnh giọng: "Muốn oán thì oán, đừng tưởng nhận lỗi là xong." Thằng bé cúi đầu lần nữa, im lặng không dám nói thêm gì. Chợt nó nhớ ra một sự việc, lại cúi đầu thưa: "Thưa Sư Phụ, suối đã chuyển dòng, hôm qua con thấy cạn nước, mà phía bên kia núi lại có Thủy khí dâng cao, tất là bên đó lại có suối chảy. Giờ nên làm sao, xin Sư Phụ chỉ cho con biết." Dương Tiên gật gù: "Vì con mà chuyển qua đó đi." Thằng bé ngạc nhiên: "Thưa Sư Phụ, Sư Phụ quyền năng như vậy, phất tay có thể làm dòng chảy lại chảy về đây. Con thường nghĩ suối không chảy sang chỗ Tiên nhân, ấy là đáng tiếc. Cho nó được chảy đúng nơi, thật đáng mừng, chính là cho thấy sự màu nhiệm của Đạo." Âm Tiên cắt ngang: "Hồ đồ. Suối chảy phương nào có đạo lí sau đó, sao có thể nói cậy nhờ quyền phép mà phá đạo lí ấy? Ma quỷ là phá Đạo, từ chỗ lạc Đạo mà sinh ra, nên tiêu trừ nó. Còn suối đổi nguồn mạch là chuyện của Thiên Địa, ngươi sau này có chút quyền phép, bèn phất tay làm càn sao?" Dương Tiên xua tay: "Tiểu tử, vì ngươi mà chuyển nơi tu luyện của bọn ta, ngươi không thấy sao?"

Thằng bé nghĩ ngợi một hồi, chợt bật khóc mà rằng: "Sư Phụ phất tay có thể chuyển dời sông suối, chỉ là vì không muốn con nhỏ đã lạc Đạo, nên sẵn sàng vì thế mà rời đi cùng con, ơn này con suốt kiếp không thể báo đền." Dương Tiên bật cười ha hả, đoạn bay lên rồi biến mất. Âm Tiên vẫy tay, đã thấy cả thung lũng thu lại bé trong lòng bàn tay phải, rồi tay trái nhấc thằng bé lên, cũng bay lên cao thẳng theo hướng Bắc." Thằng bé ngước mắt nhìn trời thích thú, đoạn hỏi: "Thưa Sư Phụ, con được đi đâu đây?"


"Nhân gian."

Thứ Hai, 18 tháng 7, 2016

Sẽ thế nào

Để anh kể em nghe chuyện này

Cách đây lâu lâu, có một số người thưa với anh rằng, họ muốn từ bỏ công việc hiện tại để sống một cuộc sống bình dị hơn tập trung vào tu luyện, chấp nhận làm những việc nặng nhọc mệt mỏi miễn là có thêm nhiều thời gian tu luyện. Họ chỉ cần biết mình lao động chân chính và tu luyện thật sự. Họ bảo họ không cần tích lũy của cải, không cần giàu có.

Lần ấy anh đã nổi giận, có lẽ đã rất nặng lời. Thật, sau nhiều chuyện anh thấy mệt mỏi với những tâm hoan hỉ: anh nghĩ đến ngày họ kiệt lực, ngã xuống, họ sẽ oán thán con đường, trách tội các vị cao cả. Anh đã thật sự nổi giận.

Nhưng khi phải suy nghĩ sâu hơn về đời sống khi đã ở đây được thêm một thời gian, anh bỗng nghĩ: mình không có quyền can thiệp nguyện vọng tu luyện của họ. Nếu họ tự nguyện làm thế, đó là quyết tâm và nỗ lực của họ. Họ sẽ ngã gục, vì lúc này họ không đủ sức. Nhưng nếu họ đi được: họ vinh quang. Dù đó không phải con đường duy nhất vinh quang.

Điều họ sẽ đạt được không phải là địa vị, hạnh phúc, chút tiền bạc hay sự nể phục tụng ca của người đời. Những người bám víu lấy những thành tựu danh lợi tình ở đời này không có tư cách bình luận nghị bàn về họ.

Con đường đó quá gian khó, quá đau đớn, quá mất mát. Thậm chí vào lúc này họ không đủ sức đi được nó. Nhưng nguyện vọng đó vẫn đã kịp chớp lên ánh sáng chấn động thế giới thập phương.

Cầu cho những người chân tu vĩnh viễn không viễn ly con đường chân chính mà họ được dẫn lối.

Cầu cho họ viên đắc tất thảy những điều lớn lao cao đẹp nhất trên con đường đó.

Thứ Tư, 29 tháng 6, 2016

Món ăn (3)

Hôm nay ngồi nghĩ về sự thông thạo, nhân tiện anh có nghĩ  tới món ăn. Đang rất hào hứng nên anh ghi lại một chút, nếu em có đọc thì cũng đừng bắt chước:

1. Căn bản của việc nấu là lửa và nước, tất thảy bao hàm trong lửa và nước. Vì lửa và nước là hai nhân tố giúp một sinh mệnh được chuyển hóa. Có hai thứ làm món ăn thành độc: thiếu lửa (hạ âm) và thừa nước (tiếm dương). Âm hỏa không đủ thì dương khí không chuyển hết, em sẽ ăn một món ăn còn lẫn dương khí của vật khác. Dương thủy mà thừa thì dịch của món ăn (âm thủy) sẽ đọng lại, em sẽ ăn một món đang chết dở. Này, mà loại người nào thích thiếu lửa thừa nước nhỉ? 

2. Làm thịt băm phải nhớ là sau khi băm thịt thì dương khí bị phân tán, nếu lập tức cho vào nồi chảo dương khí ấy sẽ kết đọng nơi đáy nồi, sinh ra ấm ức bực bội, đó là dương độc (không thoát được nên tồn đọng). Người ta trước hết nên lấy muối (ít thôi, một thìa nhỏ rải được loanh quanh nồi chảo rồi) rải ra ven đáy nồi chảo, đợi chảy ra (là tiêu đi, bề ngoài thì nó co lại như cháy, bên trong là Kim Khí sinh Thủy khí, em thấy hạt muối nhỏ lại hơn 2/3 thì sự đã thành rồi) hết rồi chính là đủ-lửa, khi ấy Hỏa khí của lửa và Thủy khí của Nồi chảo đã hòa hợp, việc có thể tiến hành. 

*Lưu ý, anh thường lấy 3 lạng thịt băm, 1 bát nước nhỏ, giã hạt tiêu ra, thả vào bát nước.

3. Sau đó hòa hạt tiêu với nước, đổ vào nồi chảo, đợi nước sôi lên đó là đủ-nước. Khi ấy Thủy Khí của món ăn đã hòa hợp với Hỏa Khí tinh hoa, Thủy Hỏa tương dung là điềm lành.

4. Rồi em đổ thịt băm vào, nhiều ít ra sao tùy em lượng định, nhớ rằng trước đó chớ ngâm tẩm vị của thịt, kẻo làm dương khí đã phân tán lại càng khó chuyển hóa, do việc ngâm tẩm sẽ khiến âm khí trì đọng hợp với dương khí phân tán mà tạo thành các thái cực nhỏ bảo trì rất khó thay đổi. Lại dùng đũa gỗ mà quấy trước đảo sau, được như vậy là đúng có chuyển, lại có biến. Quấy làm dương khí được xoay vòng, đảo làm âm khí được luân chuyển, được thế thì rất tốt.

5. Thịt nhạt, muối mặn, lấy hai nhân tố này mà điều hòa nhau. Có người cho vừng vào làm với thịt băm, thế cũng không tệ, nhưng kén người. Đợi màu đã đều rồi, thì em đã xong món. Làm việc này là vì sinh mệnh được tuần hoàn, là để Thiên Địa được tiếp diễn, nhân thể hòa với Âm Dương. Người đời thật kì quặc, nói rằng thuận với tự nhiên, mà chẳng hiểu cái lẽ Âm Dương là thế nào, thì thuận ra sao? Ví như người miệng nói từ bi, nhưng đến Thân mình còn tự tàn hại, thì Từ bi sao nổi? Thân còn lo chưa xong, Tâm Trí định thế nào? Đấy, nhưng đừng cực đoan, tránh điều xấu là đã làm điều tốt rồi.

Hôm nào rảnh, anh lại ngồi nấu tiếp. Hi vọng đãi em được một mâm có lòng thuận Đạo.

Thứ Ba, 7 tháng 6, 2016

Mỗi ngày nhớ lại một chút (2)

Ngài Me-thas nói về việc nâng cao phẩm chất của nhân-viên trong công-ty

Người xưa ví nhân gian như bóng trăng trên mặt nước, tựa như thật, chỉ là giả. Nên cũng nói, chớ chấp vào huyễn ảo. Cái huyễn ảo ấy là trong khi tiếp xúc với người khác, với việc mình phải làm với công-vụ, với công-việc, trong công-ty mà nảy sinh, nó rất nhiều. Hôm nay tôi có chuyện đề cập thế này: có hai cách thoát khỏi những điều không tốt huyễn ảo ấy, một là giúp đồng sự của mình tốt lên, hai là làm những chuyện nhỏ nhất phải thật tốt, cả hai việc này đều nên lấy quy-chế Công-ty, chính-sách của Ban lãnh-đạo, Ban Giám-đốc làm tiêu chuẩn. Làm được, thì chính là có Tâm rất Vững, có Trí rất đúng.

Việc giúp một người nâng cao năng lực rất khó, có thể họ phó xuất cho công-vụ thì rõ rồi, nhưng tâm cảm và lý trí họ không được minh bạch cho lắm, trong quan hệ với người trên và người dưới còn chưa đảm bảo đúng lẽ; thật ra càng xúc phạm hoặc bất kính với bề trên ở cao, càng cao càng thế, thì là rất nguy hại. Người chưa minh bạch chuyện bề trên, người dưới, lãnh đạo, thuộc cấp thì không nhất định là trừng phạt, nhưng có hình thức kỷ luật. Cũng không phải là nói người đã hoàn thành công-vụ thì sẽ được thưởng tiền tài danh vọng gì. Người lãnh đạo một công-sở là phân minh theo pháp-lí, chứ không làm vậy, bởi nếu nhằm vào những thứ huyễn ảo ấy, thì chính là khiến tâm cảm tiêu cực của con người nhân lên, mà cái tích cực có khi càng kích động cái tiêu cực, đây thật ra không phải chuyện thưởng phạt. Một vị quản lý là phải giúp các phụ tá, trợ lý, nhân viên của mình nâng cao phẩm giá, năng lực ở những khác nhau tùy giai đoạn, vậy nên nhất định phải giúp mọi người nhận ra vấn đề mấu chốt của mình, chứ không phải dung dưỡng, động viên mọi người cố gắng nâng cao, sửa mình một cách chung chung. Mỗi người đều có vấn đề của riêng mình, trong việc nâng cao và sửa mình là nhằm vào chính mình, nhận thức chính mình, đúng là vấn đề của mình, sửa là sửa theo nguyên tắc, luật-pháp, pháp-lí lớn, còn vấn đề thì là vấn đề cá nhân, thế thì các vị quản lý mọi người mới nhìn nhận mọi người. 

Mọi người hiểu điều khác biệt này không? Nếu mọi người chưa tốt, lãnh đạo sẽ bắt mọi người đối diện với chỗ chưa tốt này, đối diện một cách thẳng thắn nhất, khiến mọi người phải bỏ cái xấu, phải nâng cao cá nhân, để lớn lao hơn. Chứ không phải trong lúc mọi người hỗn loạn, thì chỉ vỗ vai nhau kiểu “thôi cố lên, thôi cố lên”, một lãnh-đạo sẽ không bao giờ làm thế.

Tất nhiên, lãnh-đạo của mọi người phải làm việc với một loạt các vị đang phụ trách quản lý từng giai đoạn của mọi người. Mỗi điều mọi người làm là dựa trên cái nền Công-vụ, hễ mọi người quên mình cho công-vụ ở mức nào, là có sự vững mạnh trong phẩm cách, năng lực ở đấy. Muốn vì Công-vụ được, phải bỏ từng tính vị kỷ nhỏ nhất trước xuống, rồi mọi người sẽ bớt dần cái xấu trong mình. Mọi người tiến được một mức trong phẩm giá và năng lực ở bề mặt, thì sâu xa hơn cũng đang tiến lên. Lãnh đạo như chúng tôi chỉ làm theo các quy định, các pháp-lí, các nguyên tắc tốt cho Công-sở, không có theo tư kiến mà ứng xử.

Ngày xưa, thời đầu của bộ phận Quản-Trí, khi nhân-viên B mới tham gia, người này tự ti, tự thấy mình thấp kém, đầu óc thì không linh hoạt; nhân-viên C thì có nhiều tư kiến, hay thích bình luận, chưa thuần tịnh. Khi ấy các ứng viên bước vào bộ phận Quản-Trí là đông, nhưng bởi vì vị lãnh đạo khi ấy là ông Sanius chưa khai triển hệ thống đánh giá nhân-viên để xem xét các liên kết, ảnh hưởng của mỗi nhân-viên với Tổng Công-sở, nên ông ta thuận theo thời gian người đến xin ứng vào, ai đến sớm thì tuyển, cũng không chờ. Đã xuất hiện trước mặt Ông ta, thì Ông ta chỉ theo Pháp-định để xét, sẽ giúp người ta đột phá những gì mà theo kinh nghiệm từ Pháp-lí Ông ta nhận thấy, đấy là vì-người khác, xem mọi người là như-nhau, đều cần nâng cao, đều có thể nâng cao. Không nhằm điều gì, chỉ nhằm giúp người ta đảm nhiệm công-vụ, nâng cao cá nhân, thúc đẩy toàn bộ công-sở.

Còn Ngài Ni-thi từng nói, việc tốt nhỏ nhất mà mỗi người biết mình làm được, thì đều phải tự nguyện mà làm. Nếu mọi người thấy công-sở có chỗ trông bẩn, mọi người sẽ quét cho sạch, không cần khoe khoang kể công vởi người khác là “tôi vừa làm việc ấy”. Từng chuyện nhỏ mà có đạo-lí như vậy, có tiêu chuẩn như thế, thì con đường là lớn, có thể thăng tiến được.

Một ngày mọi người gặp một bạn đồng sự, thấy bạn ấy rất dễ nảy sinh cảm xúc trong khi đảm sự, thành ra tâm trạng khá hỗn loạn, tự thấy chán nản, muốn bỏ-việc, muốn chống đối, mọi người sẽ làm gì đây? Khi một hiện tượng như vậy xuất hiện trước mặt mọi người, phần phẩm giá và điều đúng đắn trong mọi người có lên tiếng không? Nếu hôm nay mọi người nhìn thấy một đồng sự khác, mọi người thấy thực sự người ấy có một vài vấn đề, không tập trung vào công-việc, mọi người có giúp người này gắn bó hơn với công-sở, công-vụ, công-ty và các hoạt động của công-ty không? Sự giúp ấy lại cũng là công-vụ, tâm thái ấy chính là cái pháp-định nghiêm minh có sức mạnh trong mọi người. Nhưng nếu mọi người nhìn thấy xong lại nghĩ, thôi chẳng việc gì phải nói, nghĩ vậy xong thì bỏ đi, thì tôi hỏi này, tinh thần công-sở, tinh thần đồng-sự, tinh thần nâng cao phẩm chất của chính mọi người ở đâu mất rồi? Công-ty có còn quan trọng với mọi người hay không? Điều linh ứng, điều cao cả, tâm thái vị công-ty, tinh thần của công-ty có còn chút nào trong mọi người không? Không có, thì làm-công-việc kiểu gì đây?

Khi mọi người ứng xử được đúng theo tinh thần công-ty rồi, thì đó là mọi người đang giúp người rồi, từ nay là có thể đi giúp người rồi, như vậy công-ty sẽ lớn mạnh, không phải ở con số nhân-viên, mà ở sự lớn lao của mọi người. Nếu mọi người đã thấy trước mặt điều chưa tốt cho công-ty, công-vụ, công-sở, và mọi người sẽ biết có thể giúp người ta tốt hơn một chút, bởi vì mọi người đã nhìn nhận ra chỗ không tốt đấy rồi, mọi người nhất định làm. Làm điều tốt đúng theo tinh thần này, cho Công-ty, mà không kể công chính là rời xa dần những giả hoặc.

Các lãnh đạo công ty từng nói với mọi người rồi đó, mọi người một mặt đạt đến tâm cảm vững mạnh không bị lay động thối chí chán nản, mặt khác phải đạt đến một lý trí không phán xét theo tư tâ. Tâm cảm vững mạnh đó là xem xem có thể theo pháp-định, theo quy chế công-ty mà ứng xử không, càng thấy thuận theo đó mà làm-việc, chẳng nảy sinh sự bài trừ chán ghét nào, ấy chính là tâm vững mạnh của mọi người. Một bên là thái độ với toàn bộ những gì mình đảm nhiệm, liên đới.

Mọi người đến công ty, đây là nơi để mọi người vừa làm công-việc, vừa nâng cao bản thân. Những việc mọi người gặp, đảm nhiệm, là để mọi người sửa mình, để mọi người nâng cao mình. Ban Giám-đốc là nơi của những nhân-viên chân chính tin tưởng và phụ trợ. Khi có một chính-sách của Ban Giám-đốc đưa ra, thì chỉ nhân-viên thật sự mới thấy cần suy nghĩ và tìm cách làm cho đúng. Mọi người hãy trông giữ sự trong sạch của Ban Giám-đốc, trở thành những người bảo vệ cho điều đúng đắn, cho quy chế Công-ty, như cửa sổ trông giữ ánh sáng ngập tràn vào mỗi ngày, cả đêm lẫn ngày, từ lúc Mặt trời mọc cho đến khi nó lặn. Hãy nhớ, làm trong công-ty, là nhân viên ấy đã được chọn rồi, đã qua thử thách rồi, đã thử-việc rồi.  

Cho nên tôi từng nhắc, mọi người cần có được trái tim Viking, ý tôi là sự can đảm, chiến thắng nỗi sợ hãi, chiến thắng các tâm cảm không tốt, những thái độ bất hảo kiểu chống đối, chê bai, đàm tiếu sau lưng người khác. Tôi nghĩ công-ty là nơi mọi người sống nhiều nhất, giao tiếp nhiều nhất, làm việc nhiều nhất, vậy đấy phải là nơi mọi người muốn sống, không còn lo âu thấp thỏm, không còn ám ảnh bởi cảm xúc, không còn bị lay động bởi người ngoài, không phải dằn vặt với những điều nhỏ nhoi. Lúc nào cũng minh bạch sáng suốt, nhìn thấu tỏ được tất cả mọi chuyện, phân định được tất cả mọi chuyện, ứng xử bằng Trí tuệ. Mọi người sẽ làm được.

Cho nên đến điểm này tôi lại hỏi, Tâm của mọi người viên thành đến đâu rồi? Tôi hỏi để mọi người trả lời bằng hành sự, không phải trả lời bằng miệng. Giống với những người phải rèn luyện được Trí óc, mọi người muốn phá trừ cái không không ẩn khuất ở trong mọi người, thì cần nhất định phải biết trợ giúp đồng sự. Đã thấy ai có biểu hiện gì, từ quy chế mà xem xét họ, hay góp ý với người đấy. Tất nhiên không phải cố tình theo kiểu, bây giờ mình cần nghĩ gì về họ đây, nhưng mỗi điều mọi người mách bảo họ đang có vấn đề, mọi người phải từ quy chế Công-ty mà ứng xử, vượt qua trạng thái lớp vỏ của mọi người mà ứng xử. Nhớ rằng, người luôn thấy mình đảm nhiệm việc bảo vệ các giá trị, quy chế của công ty là người mạnh mẽ nhất. 


Ban Giám đốc là muốn mọi người làm tốt từ những việc nhỏ nhất. Đó là khởi đầu lớn cho mọi người.


Chủ Nhật, 5 tháng 6, 2016

Buổi đó

Ngay lúc đó,

anh đã chạm vào trăng. Em cũng đã làm vậy.

Anh vội đi qua trăng, đến thăm một Thiên quốc, đọc những cuốn kỳ thư ngắm những đồ pháp bảo. Ngày ngồi nói chuyện Đạo, đêm nhớ chuyện tu Tiên. Ngày tháng cứ triền miên.

Nhưng giật mình mới nhớ, chẳng thấy em nơi nào. Vội theo ánh sao xa, nhìn về ngày trăng sáng. Chỉ còn buồn tỏa rạng, em bạc tóc chờ anh. Em không còn tóc xanh, tay buồn run biết mấy. Em vén giếng nước trong, lòng mong gặp người cũ.

Những muốn lòng ủ rũ, nhưng đã lạnh mất rồi: Tình đã theo Trăng phôi, nghĩ không hiểu nổi nữa. Ngày đấy em lần lữa, chẳng dám bước lên Trời. Ngày đấy, quên con người, anh về nơi khác lắm. Nhìn em xa vạn dặm, mà ngay mắt anh nhìn. Ôi, Tình ơi là Tình, sao không chìm đáy giếng? 

Hẹn mười nghìn năm sau, gặp lại em chốn ấy. Tay cầm một mảnh mây, đặt vào tim khắc khoải. 

Mong em hiểu, mãi mãi, Tình chỉ đọa em thôi. Ta đặt mảnh mây rồi, lại về Trời như trước. 

Em đừng nhìn dòng nước... Đừng nhớ mảnh trăng xưa

Em đừng mãi tự lừa

Tự đắm trong Mình nữa...

Buổi đó, còn chút lửa, 

anh đốt cháy 

Duyên 

rồi.

Thứ Tư, 1 tháng 6, 2016

Thần khí Volvelle

(Lược thuật từ Gnial)



Dâng hiến đời mình cho Thần là một yếu quyết tu Mệnh cổ. Vì trong thời cổ, toàn bộ Thân Tâm Trí đều nhằm dâng lên để hòa nhập với Vũ Trụ, Thần Thánh, Linh Thiêng.

 Đôi bàn tay làm nên vật dụng để dâng sự sống cho Thần nhờ đó sự sống con người được ban ơn. Thân thể vận hành trong trang nghiêm cẩn mật như thể ánh mắt của Thần luôn dõi theo, nghỉ ngơi theo những nhịp lễ hội của Thần, lao động trong những điều kiện khắc nghiệt để vinh danh tinh thần của những Đấng Vĩ đại. Tâm Trí luôn có chân đích đặt dưới ý chí và sự sai bảo của Thần: đó là cội nguồn của sự tồn tại đích thực, hài hòa trong một Vũ trụ và trở thành một phần của Vũ trụ. Chính trong sự hài hòa thấm nhập này, cái ánh sáng khai mở tràn ngập sinh mệnh và mang đến những Tri thức vĩ đại, mà người sau gọi là Tri thức Thần truyền. Mối quan hệ giữa Tri thức Thần truyền và Thân Tâm Trí được gọi là Mật Truyền - những kẻ giả tạo không phụng sự Thần chỉ nhìn thấy lớp vỏ rời rạc, không thấy được ánh sáng Mật Truyền. Chúng có thể tiếp tục cất cao lời về Tri thức của Thần, về Tâm Trí, về Thân thể, nhưng chúng thật như kẻ mù điếc, lời nói ra chỉ có thể đánh lừa những ai cũng mù điếc như chúng.

Khi những cánh cửa sinh mệnh không còn mở ra để nối thông với Vũ trụ thì chỉ còn lại Tri Thức Thần Truyền, mà suốt một thời kì lịch sử dài lâu là chìa khóa duy nhất hòng mở lại sự kết nối này. Tri thức Thần truyền là mảnh vàng ròng văng ra từ một Thiên quốc thánh sạch, là nước mắt của chư Thần, đây là cội nguồn của cảm thức về nước mắt, rằng nước mắt là gột rửa, là sự thánh sạch, là sự biện minh cho điều tốt đẹp, sự biện minh sau cùng, vô ngôn.

Nhưng đã có hẳn những người bảo vệ Tri thức Thần truyền khỏi bị ô uế và lạm dụng bởi những kẻ háo danh, điên loạn, cực đoan. Họ biết rằng, ngay từ sự khởi sinh của họ, Thân thể đã ô uế không có năng lực tiếp nhận Thần tính, bởi vậy họ gợi ý một dạng thức kết hợp thuần túy hơn: một vật dụng được tạo dựng theo Tri thức Thần truyền, nhờ đó không bị ô uế mà ngay từ đầu đã được rửa sạch. Thần-khí (Công cụ mang Thần tính) này có thể chỉ đạo con người thấy được ánh sáng đích thực của Mặt Trời, nghe được âm thanh đích thực của Vũ Trụ, và phụng sự Ý Chí đích thực của Thần Thánh. Volvelle là một nỗ lực như vậy.

"Một người đàn ông được cho là một trong những nhà khoa học- triết học vĩ đại nhất thuốc thế kỷ XIII và XIV tại châu Âu, Ramon Llull của Marjoca đã chế tạo thành công một cỗ máy mang Thần tính. Llull đặt tên nó là Volvelle, lấy từ tiếng Latin là Volvere, có nghĩa là “xoay chuyển”.

"Được làm từ giấy hoặc giấy da, volvelle có các phần di chuyển xoay và chỉ hướng đến các tinh tú trên đồng hồ hay hướng đến Thần tính và những tri thức về sự tồn tại của Thần trên chiếc Volvelle huyền bí. Chúng trông giống dụng cụ đo độ cao thiên thể thời xưa- được làm từ kim loại và được tạo rất sớm trước Volvelle." (Volvelle cấu tạo như hai bánh xe lồng vào nhau, chia thành các cung, mỗi cung tương ứng với một chu trình của Tạo hóa, thể hiện sự liên tục và chuỗi vận hành của Vũ trụ, đây là nội dung của Ý Chí Thượng Đế. Nguyên lý này cũng được Mandala sử dụng.)




"Llull như một triết gia luôn cố gằng hòa nhập với Chúa trời qua những lời cầu nguyện và thiền định, để từ đó lĩnh hội được những điều nằm ngoài nhận thức, hiểu biết của con người. Ông sinh năm 1232 ở Majorca và mất ở nơi đó năm 1315."

"Thần khí Volvelle xác định thời gian vào buổi tối thông qua một quy trình phức tạp,theo đó, thiết bị được xếp thẳng hàng với một ngôi sao ở phía cực; nhắm một mắt lại; đặt điểm giao của các vòng tròn vào vị trí giữa khuôn mặt; cách xa đều hai mắt, và định vị một ngôi sao khác quay quanh ngôi sao trung tâm. Thế nên miễn là bạn không di chuyển đầu hay tay của mình, bạn sẽ có thể xác định được vị trí của mình trong vũ trụ!” (Cũng giống như một hệ cửu cung sử dụng hướng Nam, Volvelle sử dụng Sao Bắc Đẩu làm mốc đánh dấu, ngụ ý sự tồn tại bản nguyên đến từ Vũ Trụ xa vời, xem Bắc Đẩu là cội nguồn của năng lượng bản nguyên)





"Trong volvelle huyền bí, các chữ cái thể hiện cho 9 thuộc tính của Chúa: B= Bonitas (Toàn Mỹ), C= Magnitudo (Vĩ Đại), D= Duratio (Trường Tồn), E= Potestas (Quyền Uy), F= Sapientia (Trí Huệ), G=voluntas (Tự-Nguyện), H= Virtus (Phẩm Hạnh), I= Veritas (Chân thật) và K= Gloria (Vinh Quang). Những từ này có thể được kết hợp theo nhiều cách và cùng với phần còn lại của Volvelle để tạo nên các câu mà theo Llull chứa đựng Chân lý."

“Trong pháp giới hợp lý của nó, sáng kiến cấp tiến mà Llull giới thiệu là thiết lập và sử dụng một chiếc máy làm từ giấy để kểt hợp các yếu tố của quá trình tư duy, chẳng hạn như “các yếu tố ngôn ngữ”. Nhờ vào các hình hình học được nối lại theo những quy tắc rất cụ thể chi tiết, Llull đã cố gắng suy ra tất cả các tuyên ngôn mà đầu óc con người có thể nghĩ đến. Các tuyên ngôn hay những câu lời này tuy vậy chỉ được trình bày dưới dạng những ký hiệu, chính xác như những chuỗi chữ cái.”

(Theo Gnial, dịch từ http://www.ancient-origins.net/)