Phẫn Nộ Đại Tôn Giả

Phẫn Nộ Đại Tôn Giả

Thứ Bảy, 9 tháng 9, 2017

Chờ Duyên

1. Trước khi Thiện Duyên tới, thì Ác Duyên đến. Ác Duyên ấy suốt ba năm đã bị cắt sạch rồi, thì còn chờ Thiện Duyên lần lượt tới thôi. Sở dĩ có người chờ không được, là vì Phận mỏng, lại bạc Phước.

2. Cái trong mình mà cho mình Phận, gọi là Đức. Cái ngoài mình mà cho mình Phận, gọi là Phước. Người nào đến giúp mình vì Đức mà lại theo an bài mà làm Phước cho mình, người ấy thi Ơn với mình. Gặp người có Ơn mà bạc Nghĩa với họ, đó là phường phản phúc.

3. Người đến là Thiện Duyên, thì người gặp lẫn người đến đều đắc Thiện Duyên. Người đến mà mang Ơn, người ấy cũng đắc Ơn. Đó không phải là vay trả, không phải là duyên nghiệp. Đó là An Bài.

4. Những người mang Thiện Duyên rất lớn sắp tới rồi. Chỉ lo con cháu anh bạc Phước, lại bạc Phận. Nhớ rằng: Mình ở chỗ Cao, đó là Quý. Ở chỗ Cao Quý mà mê cái Thấp Hèn, đó là Đê Tiện. Đã Đê Tiện, thì còn mong được Phận gì, Phước gì. Thật là Bạc đó mà.

5. Kiên nhẫn chút nữa, một chút nữa thôi. Đến ngay đó rồi, đều là Đại Sự.

Chủ Nhật, 20 tháng 8, 2017

Vừa lòng

1. Có người đọc xong các hiện tượng tâm lí đô thị, bảo anh rằng thật dễ hiểu quá, đọc xong không còn gì để nghĩ nhiều. Dĩ nhiên rồi, người ấy sống trong đô thị đã quen, có gì để mà thấy đâu. Như có người miệng thoăn thoắt rằng, đời là bến mê, người là vô minh, thuộc thập thành kinh sách. Nhưng vẫn vô minh, vẫn trong mê. Đám giả tu đó hoặc những kẻ tưởng-mình-biết ấy nào có Ngộ đâu, chỉ chăm lo vui thú sự mình giữa nhân gian ấy thôi. Người thấu hiểu tâm lí và không sa vào tâm cảm, đó là người làm anh vừa lòng.

2. Những kẻ tự tôn cũng đáng thương như đám tự ti. Đều vật lộn trong khiếm khuyết lẫn ảo tưởng về mình. Anh rất khinh những kẻ tự ti, hệt như thấy đáng cười những kẻ tự tôn. Kẻ tự ti thì lại làm ẩu loạn mà lấp tự ti của mình, hoặc theo một tôn giáo hoặc phép tu nào đó rồi nấp trốn trong đó. Kẻ tự tôn thì tưởng mình ghê gớm lắm, hóa ra cũng chỉ là cáo mượn oai hùm, vay danh Thần Phật hoặc tiền quyền (mà chúng có phân biệt đâu). Anh có một cô học trò nhỏ, chẳng tự ti về cái mình có, cũng chẳng tự tôn cái mình có. Cô ta đi như ánh trăng giữa nhân gian, thần khí như tiên hạ phàm. Dẫu lòng còn canh cánh nhiều chuyện trước sức ép nhân gian, nhưng nhân gian chẳng bám được nó nữa rồi. Ấy là người làm anh vừa lòng.

3. Anh thường nói rằng kẻ dưới đừng bàn chuyện trên, vì chúng có hiểu cái trên đâu. Có điều đó vẫn là cách chúng phát tác nhân gian trong mình. Vì tâm cảm nào chúng thích bàn chuyện trên, nói đến Thần Phật như vậy? Không sửa được mình thì thôi, đừng lấy Thần Phật nào làm cớ, càng nghe càng đáng xem thường, thật là mạt hạng ti tiện. Người bước vào chỗ gọi là tu luyện ấy còn chưa đủ 5 năm, Ngũ Trí còn chưa đọc hết 10 lần, thì nhét vào đầu người ta Thần này Phật nọ làm gì? Định thị uy hay ra oai? Nhân danh cái gì? Anh có biết một người nọ, chuyện tu luyện để trong lòng, thành kính đọc kinh Phật, âm thầm chỉnh sửa cá nhân, làm tốt mọi việc ở đời, giữ vẹn đạo nghĩa mà không sa vào toan tính. Chắc chắn người ấy làm anh vừa lòng.

4. Bản tính con người, đáng xấu hổ là tính thích can dự chuyện người khác. Đáng xấu hổ hơn là mượn cớ bảo thủ cực đoan vào tính cách của mình mà không biết tôn trọng người khác. Đáng chê trách nhất là vì nó mà gây hại cho người khác. Nên kẻ nào không biết tôn trọng người khác, thì đừng mong người ta tôn trọng mình, càng đừng mong ai trên đời thương cảm mình. Kẻ đó sống thì sống, chết đi cũng không ai thương. Kẻ nào thích can dự chuyện người chỉ vì rảnh quá, thì thật sống quá uổng phí, thà nhường cái mạng đó cho người tử tế còn hơn. Còn kẻ nào chuyên gây hại cho người khác, thì thà đừng sinh ra. Anh sống ở đời, cần thay đổi thì thay đổi, cần sửa thì sửa, không vì mình mà hại người, không vì người mà hại người khác, cái gì làm tốt được cho lợi ích chung, nhất định nên làm, cái gì chỉ tốt cho mình thì không để dây dưa đụng chạm vào người khác. Anh thật thấy vừa lòng về mình.

Thứ Sáu, 18 tháng 8, 2017

Phân định

1. Ngũ trí phải thập-phần thập-bận mài đi mài lại mới tinh thông. Người không làm đủ thì là không làm đủ. Không đủ thì không viên-thành được. Không viên thành được thì không đột phá được.

2. Kìa, anh ngửa mặt nhìn Trời thấy thời đã đến. Đất mở ra rồi, Trời cũng mở ra rồi. Có Bảy vị Diêm vương lên triều bái. Cũng có Bảy Thiên thần đến kết duyên.

3. Độ nhân không phải là vì Tình. Càng không phải để thỏa mãn mình. Việc ấy vốn gian khó, cần dung nhẫn, cần biết kiên định, lí trí.

4. Tu luyện không chỉ là vì Mình. Nhưng đạt đến chỗ có thể thấy rõ Mình trong tu luyện, đó là người tu. Thấy Mình trong tu luyện, không hẳn là Hướng Nội, mà là điều hòa, cân bằng giữa áp lực Hướng Nội và Sự Vụ bên ngoài. Đó là Kì Hình.

5. Không tu, thì chỉ cần là một người tử tế. Người tử tế cũng đáng trọng rồi. Đừng bắt người ta phải tu hay không tu. Giúp họ tín Thần và biết còn có Đạo là được rồi.

6. Gặp một người không tử tế, thì đừng gần cận thân thiết họ là được. Nhưng đừng sỉ nhục họ, cũng đừng khinh rẻ họ.




Thứ Ba, 15 tháng 8, 2017

Đáng giận thì giận

1. Nghĩ đi nghĩ lại, anh không thể làm việc cùng đám người tâm thần, vì thế phải cắt bỏ họ đi cả. Họ vật vã trong cái vũng của mình, không hiểu cả lí trí bình thường, thì làm sao hiểu thấu trí huệ. Hạng người ấy qua khổ càng không có trí, càng khổ càng bất trí. Cho nên anh mới nghĩ, cấm người loạn tính rồi, còn phải cấm cả đám tâm thần. Tuy vậy việc khéo léo không thể ngày một ngày hai mà xong, có điều việc lớn không nên để sẵn cái sạn nhỏ ở đó. Cần triệt tiêu thì triệt tiêu thôi. Sự ấy, lẽ thường.

2. Anh rất đề cao 3 đức tính: Chịu khó, chịu khổ, chịu nhục. Người chịu được khó, khổ, nhục, thì đảm bảo có trí huệ, có căn cơ, có thể đi xa, có thể mưu việc lớn. Chưa động đến đã giãy như đỉa, tuy có thể thông cảm về cái nhân gian đau khổ, nhưng lại cho thấy họ không có được 3 đức tính ấy. Không thì là không. Có gì mà mặc cả?

3. Con người nhân gian thì là con người nhân gian, họ vốn không biết trân quý điều cao thượng hơn nhân gian. Vì thế, họ xứng đáng với cái họ xứng đáng. Nâng không được thì hạ, cầm không được thì bỏ. Anh cũng không rảnh để cầm nắm xem xét họ mãi.

4. Làm người, ai chẳng muốn buông thả, hưởng thụ. Thế nên mới nói chuyện tu là Khổ.

Thứ Hai, 7 tháng 8, 2017

Lúc hoài nghi thì độ nhân

1. Khi Chúa sống dậy, Ngài không gặp các môn đệ ngay. Mà Ngài truyền tin đến các môn đệ thông qua các người nữ thân cận. Đó là bà Maria Magdalene. Đó là vì họ nhiều đức tin, mà không sợ hãi.

2. Đám thượng tế giả nhất định sẽ phao tin bịa đặt về Ngài. Bảo rằng việc Thiên Chúa là lén lút và lừa đảo. Chúng làm thế vì sợ hãi. Vì chúng không có Chúa. Chỉ có lòng đố kị. Chúng sẽ lụi tàn như tro bụi.

3. Trong tu về tính Thiện, kẻ không đủ thành tín, hoặc nhiều sợ hãi, hoặc không minh bạch, đều sẽ hoài nghi. Nên kìa, Ngài đã thức dậy, mà chúng vẫn định ngủ vùi. Thế nên Ngài bảo, anh em hãy độ nhân. Bằng cách đó anh em sẽ bên Ngài. Và thế là nhân gian được cứu.

Anh em có bên Ngài hay không, là tùy vào anh em ^^

Kinh Thánh cho 8/8

Tân Ước.

Matthew, 28

Ngôi mộ trống
(1) Sau ngày sabát, khi ngày thứ nhất trong tuần vừa ló rạng, bà Maria Mácđala và một bà Maria khác, đi viếng mộ. (2) Và kìa, đất rung chuyển dữ dội: thiên thần Chúa từ trời xuống, đến lăn tảng đá ra, rồi ngồi lên trên; (3) diện mạo người như ánh chớp, và y phục trắng như tuyết. (4) Thấy người, lính canh khiếp sợ, run rẩy và hóa ra như chết. (5) Thiên thần lên tiếng bảo các phụ nữ: "Phần các bà, các bà đừng sợ! Tôi biết các bà tìm Ðức Giêsu, Ðấng bị đóng đinh. (6) Người không có ở đây, vì Người đã chỗi dậy như Người đã nói. Các bà đến mà xem chỗ Người đã nằm, (7) rồi mau về nói với môn đệ Người như thế này: Người đã chỗi dậy từ cõi chết, và kìa Người đi Galilê trước các ông. Ở đó, các ông sẽ được thấy Người. Ðấy, tôi xin nói cho các bà hay". (8) Các bà vội vã rời khỏi mộ, tuy sợ hãi nhưng cũng rất đỗi vui mừng, chạy về báo tin cho môn đệ Ðức Giêsu hay.

Ðức Giêsu hiện ra với các phụ nữ
(9) Và kìa đức Giêsu đón gặp các bà và nói: "Chào chị em!" Các bà tiến lại gần Người, ôm chầm lấy chân, và bái lạy Người. (10) Bấy giờ, Ðức Giêsu nói với các bà: "Chị em đừng sợ! về báo cho anh em của Thầy để họ đến Galilê. Họ sẽ được thấy Thầy ở đó".

Các thượng tế lừa đảo
(11) Các bà đang đi, thì kìa mấy người trong đội lính canh mồ vào thành báo cho các thượng tế biết mọi việc đã xảy ra. (12) các thượng tế liền họp với các kỳ mục; sau khi bàn bạc, họ cho lính một số tiền lớn, (13) và bảo: "Các anh hãy nói như thế này: Ban đêm đang lúc chúng tôi ngủ, các môn đệ của hắn đã đến lấy trộm hắn đi.(14) nếu sự việc này đến tai quan tổng trấn, chính chúng tôi sẽ dàn xếp với quan và lo cho các anh được vô sự". (15) Lính đã nhận tiền và làm theo lời họ dạy. Câu chuyện này được phổ biến giữa người Do Thái cho đến ngày nay.

Ðức Giêsu hiện ra tại Ga-li-lê,
và sai môn đệ đi đến với muôn dân
(16) Mười một môn đệ đi tới miền Galilê, đến ngọn núi Ðức Giêsu đã truyền cho các ông đến. (17) Khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi. (18) Ðức Giêsu đến gần, nói với các ông: "Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. (19) Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, (20) dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy đã truyền cho anh em. và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế".


Chủ Nhật, 6 tháng 8, 2017

Phù Vân, Ngoại truyện (07)

Thực ra một ngọn núi gồm hai phần: một là phần cứng, hai là phần mềm. Dù khi nhìn thấy một ngọn núi, người ta chỉ nghĩ là có phần cứng, có đá của nó thôi. Giống như ở trong một phân tử đá có hai phần: một là phần cát, phần có thể trôi đi được, phần mà ta giũ một cái thể nào nó cũng rơi ra; và một phần không phải cát, nó giống như bùn, dính chặt, nó đính, kéo các hạt lại với nhau. Trong một ngọn núi lớn thì phần cứng nhất giống như phần hoa cương, nó là lõi núi, còn phần thịt nằm ở bên ngoài. Phần lõi núi cứng nhất, mạnh nhất, nó nằm giống như xương sống của toàn bộ ngọn núi. Bao giờ cũng có phần cứng và phần mềm, một ngọn núi bao giờ cũng có Cha và con, mối quan hệ Cha con trở nên rất thiêng liêng đối với tất cả các tộc người sống xung quanh vùng núi. Chẳng hạn như thói quen của người ta, tất nhiên là bây giờ người ta giải thích bằng rất nhiều nghĩa, như từ “Hùng Vương”, người ta cho rằng chữ “Hùng” xuất phát từ chữ Pó Khun (Pó Cun), về sau đọc thành Hùng Vương. Pó Khun (Pó Cun) tức là Bố Cả, và nó vẫn có nghĩa như thế. Vua Cha, Bố Cả, Bố là Cả, Núi là lớn, và có một phần lõi bên trong, lõi đấy là con gái. Con gái út bao giờ cũng cứng nhất, chắc nhất, thanh sáng nhất.

Nhưng tại sao lại như thế? Đối với con người nhân gian, ngày xưa những người không thông hiểu huyền học thường hay nói là khí Trời khí Đất tụ thành hình, nghĩ thế cũng đúng. Nhưng khí Trời khí Đất chỉ là một phương tiện, nguyên khí của vạn vật mới là sinh mệnh đích thực, nguyên khí khiến cho các sinh vật khác tụ xung quanh. Ngay cả bản thân một núi đá hoa cương, lõi núi, cũng có sinh mệnh của nó, sinh mệnh đấy tạo thành lõi núi chứ không phải lõi núi tạo thành sinh mệnh đấy. Không phải khí Trời Đất tựu thành một sinh mệnh, mà là sinh mệnh đấy tựu thành khí của Trời Đất, tập hợp khí của Trời - Đất lại. Cho nên không phải là tia sét đánh vào hòn đá sinh ra Ngộ Không, mà là sinh mệnh đấy hút tia sét và nó vỡ ra, nó đột phá nâng lên, nó có sẵn ở trong đá rồi.

Với một mạch núi chạy rất dài, chạy qua Việt Nam, toàn bộ mạch núi chạy đến Việt Nam, thì núi có hai phần: một là phần Dương lớn bên trên, hai là phần Âm chìm bên dưới. Hãy tưởng tượng, bóc hết phần đất – giống như thịt ra, thì phần bên dưới sẽ là xương núi.  Có thể thấy những ngọn núi trải dài bên dưới, những cái thềm, còn bên trên là đất phủ, có thể đất dày nhưng núi chạy trượt xuống, tạo thành những ống lớn chạy khắp các không gian. Khi Bố Cả ở đâu, Cha Núi ở đâu, chắc chắn là núi con cũng có ở đấy, có Long Mạch ở đâu thì Ẩn Long cũng phải ở đấy. Tất nhiên là Long Mạch càng lớn thì Ẩn Long càng nhỏ.

Ở xứ Việt, khi những mạch núi tiến ra biển, tất cả xoắn lại ở một vùng, tại vùng này những nút thắt núi tụ đến một điểm, nó mở ra thành một vùng đồng bằng mênh mông xung quanh, giống như một con Rồng cuốn, cuộn, bên trong chính là nơi để xuất sinh Thần Thánh. Đấy là nơi xuất sinh một trong những vị Thần, bởi vì vị Thần đấy giáng thế vào đấy, cho nên mạch núi sẽ chạy như thế. Đừng hiểu là mạch núi chạy như thế nên vị Thần phải ở đấy, vì Thần ở đấy mà sông núi thành như thế. Sông núi chạy theo cái lí của Trời, chứ Trời không chạy theo lí của sông núi, cái lí luôn luôn là vậy. Cho nên Lão Tử mới nói là: “Người theo Đất, Đất theo Trời”. Đất bao giờ cũng theo Trời, theo cái lí của Thần mà biến đổi. Ở vùng Sơn Tây là nơi mà núi cuộn lại và mở ra một vùng mênh mông, đấy là nơi xuất sinh một trong Tứ Bất Tử – Sơn Thánh. Thánh Sơn – Tiên Thủy – Thần Tướng – Phật Quang. Vị Sơn Thánh là đứng đầu, là Bố Cả, vị ấy quản lí tất cả các mạch núi. Vị ấy là người quản lí tất cả những hệ thống kiến tạo nên vùng quốc gia mà ngày nay gọi là miền Bắc, Bắc và Bắc Trung Bộ, toàn bộ vùng đấy thuộc vùng quản lãnh của vị ấy. Tất cả các mạch xương núi, gờ núi bên dưới là do vật chất tương ứng của vị ấy trước đấy mà tụ thành hình như thế. Vị ấy ở đấy bao nhiêu năm, bao nhiêu tháng, bao nhiêu ngày, tên là gì, không ai biết được, chỉ đến khi vị ấy xuất thế, rồi những con người ở đương thời biết đến vị ấy, gặp được vị ấy thì mới gọi vị ấy bằng một cái tên. Bản thân cái tên này không phải là một cái tên, nó chỉ là cách gọi, đấy là Sơn Thánh, Sơn Tinh, tất cả các tên này tương đương với nhau.

Một người Cha Cả luôn luôn có một con gái đi cùng. Người con gái này có thể ngỗ nghịch, và thường là cô con gái ngỗ nghịch. Cũng như trong câu chuyện của Liễu Hạnh, trong ba lần giáng thế, bà đều là một vị Thần nổi loạn. Bà không ở cạnh bên Cha được, bà chạy nhảy, bà không ổn định được, và tất cả những cô gái, tất cả những Nữ Pháp sư, tất cả những người con gái của các Bố Cả, đều vô cùng nổi loạn. Họ không ở yên bên cạnh Cha được, họ phải chạy nhảy, và vì thế họ thường đi lạc, họ thường giáng trần, họ thường mang lốt con người. Liễu Hạnh là công chúa ở trên Trời, nhưng khi giáng trần, bà là con người. Bà xuất sinh trong hình ảnh con người và cái tên Thần Thánh của bà là Liễu Hạnh, Pháp Danh được ban cho, chứ bà không lấy tên ở trên Trời nữa, bà lấy tên nơi mà mặt đất có tên. Còn Thiên Đình thì vẫn ở trên kia, Ngọc Hoàng chẳng bao giờ giáng thế.

Cho nên, nếu Sơn Thánh đã ở trong Tiên Giới, con gái Ngài hẳn phải ở nhân gian. Nhưng con gái Ngài là ai? Con gái Ngài luôn luôn ở nhân gian để vinh danh Ngài, thực hiện quyền năng của Ngài và là xương sống của Ngài, là phần giúp đỡ và khiến cho Môn Phái của Ngài được trở nên tỏa rạng. La Bình Công Chúa, Lâm Cung Thánh Mẫu, Đông Cung Thánh Mẫu, Mẫu Thượng Ngàn, rất nhiều tên gọi, tất cả những tên gọi đấy là gì? Bởi vì nàng đến đâu thì nơi đấy phải tụng ca nàng như thế. Lâm Cung Thánh Mẫu, nàng luôn luôn tươi trẻ, giống như đá hoa cương.

Hãy nói về các vật quí của con người. Trên đời này người ta thường nói có bốn thứ là quí nhất: tê giác hay sừng tê, giác là cái sừng; hột xoàn tức là kim cương; nhân sâm; mỹ nữ. Tê giác, hột xoàn, nhân sâm, mỹ nữ - bốn phần đấy được coi là bốn thứ quí nhất thiên hạ. Tại sao sừng tê lại quí? Bởi vì đấy là thuốc chữa bách bệnh, có thể chống được mọi thứ bệnh tật trên đời, trừ khử mọi thứ tà độc ở trên đời. Kim cương tại sao lại tốt? Kim cương có thể trấn yểm mọi mạch núi, nó là vua của tất cả đất đá, nó khiến cho đất đá phải phục tùng. Tại sao lại nhân sâm? Vì nhân sâm có thể kéo dài tuổi thọ, khiến cho tuổi một người có thể sánh ngang với Đất của một vùng, có thể khiến cho một người bất tử theo Đất, đấy là tinh hoa của Đất. Tại sao mỹ nữ? Đấy là tinh hoa của người.

Tại sao nói bốn nhân tố đấy? Bởi vì bất kì một Nữ Pháp sư nào cũng cấu thành từ bốn nhân tố đấy cả. Thân thể của một Nữ Pháp sư, thân thể của một đứa con gái út trong gia đình Thần Thánh, họ không bao giờ được cấu thành từ những thứ tầm thường. Con người thấy họ bằng xác thịt, họ không bao giờ cấu thành bằng xác thịt. Xương cốt của họ cấu thành từ sừng tê, cho nên nó không được cứng cáp lắm, có vẻ như nó hơi giòn, có thể nó dễ gãy, có thể nó dễ bị mài, bởi thế trông họ thường mỏng manh một chút. Đôi mắt của họ và tinh thần của họ được cấu thành từ kim cương nên nó hết sức cứng cáp, kiên định, nó hết sức phụng sự, hết sức phụng hiến. Toàn bộ da thịt được cấu thành từ nhân sâm, bởi vậy nên cô ta có thể trường thọ, có thể sống đến khi Sứ Mệnh kết thúc thì thôi, cô ta sống tuổi ngang với Đất, cô ta đến đâu thì mặt đất mở cho cô ta đi đến đấy. Và cuối cùng, vẻ đẹp của cô ta là thanh khiết, vẻ đẹp của Trời Đất. Luôn luôn là như thế, đấy là bốn phần cấu thành nên.

Nhưng khi nào thì một người có thể xuất thành? Để La Bình Công Chúa có thể tựu thành hình, đấy là cả một quá trình dài lâu. Để dưỡng được thai cho một Pháp sư xuất thế, cần phải mất ít nhất là 500 năm, khoảng 500 năm bắt đầu một Pháp sư mới tựu thành hình. Khi một Bố Cả muốn xuất hiện, con gái họ sẽ đến trước, 500 năm đấy con gái họ sẽ đến trước. Tất nhiên các truyền thống phương Tây thật kì lạ, người con trai xuất hiện thay cho Bố. Nhưng điều này lại là một truyền thống đặc biệt, nếu người con trai xuất hiện, nếu anh trai cả xuất hiện thì xuất hiện không phải để vinh danh Cha mà để cứu rỗi thế gian. La Bình Công Chúa xuất hiện không phải để cứu rỗi đời, mà để vinh danh Cha của nàng, thực hiện ý chí Cha của nàng tại nhân gian.

Cho nên khi nàng xuất hiện, nàng đẹp đẽ vô cùng. Người ta không biết nàng từ đâu đến, bỗng nhiên trong một gia đình nông dân nọ, trong một gia đình quyền quí kia, rất nhiều các truyền thuyết về nàng, bởi vì nàng xuất hiện nơi đâu thì nơi đấy trở thành quyền quí, nàng xuất hiện ở trong chỗ tăm tối nhất thì chỗ đấy trở nên rực sáng nhất. Có thể bắt gặp nàng ở trong mọi nguồn gốc, mọi điều mà nhân gian muốn nói về nàng, nàng ở trong một gia đình nghèo đói nhất, ở trong một gia đình giàu có nhất, trong một gia đình rất quyền quí, trong một gia đình nghèo mạt hạng, trong một gia đình của một kẻ say sưa, trong một gia đình của một chính nhân quân tử, điều đấy không quan trọng, bởi vì nàng có thể xuất hiện ở rất nhiều nơi cho đến lúc tụ thành một. Có thể là mỗi mảnh của nàng ở một nơi, thường là nàng ở bốn nơi cùng một lúc. Hãy tưởng tượng, có bốn người con gái sẽ mang bốn phần này của nàng: một người con gái mang sừng tê, một người con gái mang hột xoàn, một người con gái mang nhân sâm, một người con gái mang mỹ nữ. Khi nào thì họ gặp nhau? Bốn người này sẽ gặp nhau, họ sẽ có một lần gặp nhau.

Vào một thời điểm nọ rất đặc biệt, bốn người con gái đấy đã xuất hiện, họ đều tài hoa vô cùng. Một là Đông Cuông Thánh Mẫu, đấy là một người vô cùng quyền năng, người này ở Đông Cuông. Mạch núi của Đông Cuông - đấy là một vùng đặc biệt, vùng Tây Bắc, vẫn còn đền thờ Đông Cuông Thánh Mẫu, gọi là Đông Cuông Đền Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn. Nơi đến đầu tiên của nàng, Đông Cuông Thánh Mẫu, đây là vị mẫu đầu tiên, bởi vì khi xuất hiện nàng đã mang một quyền năng to lớn. Nàng có thể khiến cho Trời Đất đều biến loạn, nàng có thể khiến cho thiên tai bị đẩy lùi, nàng có thể khiến cho lửa phải lùi bước, tất cả hổ báo xung quanh vùng đe dọa dân chúng đều không dám tiến đến chỗ nàng. Nàng được gọi là Đông Cuông Thánh Mẫu, vô cùng hùng mạnh, nhưng gương mặt nàng rất đen đúa, gầy gò.

Người thứ hai mang theo bên trong mình hột xoàn, tinh thần của kim cương, não cấu thành từ kim cương, tuyệt vời, một tinh thần mạnh mẽ. Người này thường được gọi dưới cái tên là Thượng Ngàn Thánh Mẫu, vì nàng từ trên rừng xuống, nàng mang một tinh thần kì lạ, khủng khiếp, mạnh mẽ, gần như không tưởng được với tất cả mọi người. Nàng mang một tinh thần xuyên suốt đến nỗi mà tất cả các thi sĩ gặp nàng đều quì xuống. Khi nàng đến đâu thì ở đấy Đất Trời giống như rạp xuống, tinh thần của nàng vô cùng dữ dội, nàng vô cùng quyết liệt, bước chân của nàng có thể cắt cả đá núi, mỗi lần nàng đi đến đâu nơi đấy đều biến thành đường, tất cả yêu ma đều tránh xa nàng. Nàng được gọi là Thượng Ngàn Thánh Mẫu.

Người thứ ba được gọi là Lâm Cung Thánh Mẫu - Lâm Cung tức là cung ở rừng. Nàng từ một vùng rừng núi khá bằng phẳng, nàng bước lên. Người này mang trong mình nhân sâm, khuôn mặt nàng hơi già dặn, và nàng mang theo một quyền năng là có thể chữa cho bất kì ai, có thể chết biến thành sống, nàng có thể chiêu hồi sinh mạng, nàng mang đến thọ mệnh cho con người, khiến cho khi nàng bước đến đâu con người đều quì rạp đến đấy, mỗi nơi đều tôn thờ nàng.

Và người thứ tư, La Bình Công Chúa - La Bình Thánh Mẫu, có thể gọi như thế. Nàng ở một vùng xa xôi ở Thanh Hóa, ngày nay gọi là Cửa Đạt.

Trong quyền năng của họ, trong những uy tín của họ, đối với nhân gian lúc đấy không có điều gì vĩ đại hơn bốn nàng, thời đại của Liễu Hạnh ở phía sau lưng họ, họ vốn đang là những người vô cùng vĩ đại, quyền năng của họ vượt ra khỏi những giới hạn thông thường, vượt ra khỏi những nhánh tu Tiên Đạo có thể tưởng tượng được. Người ta có thể tu hàng nghìn năm mới có được một chút quyền phép, nhưng dường như các nàng đã sinh ra sẵn với quyền phép. Họ vô cùng quyết liệt, mạnh mẽ, họ đầy quyền năng, họ đầy phép thuật, đầy sức mạnh, đầy ảnh hưởng. Họ có thể khiến cho Trời Đất đều biến đổi, xét đến cùng vẫn là thế.

Rồi họ gặp nhau ở vùng Cửa Đạt bằng một duyên kiếp rất kì lạ. Bỗng nhiên một ngày, trong một giấc ngủ, tất cả bốn đều thấy một người, người đàn ông này trông to lớn, ánh mắt trầm mặc, thân thể của ông như luôn luôn đang hừng hực bốc cháy, ánh sáng của ông tỏa rạng rỡ vô cùng. Họ nhìn thấy nhau trong cùng một giấc mơ và người đàn ông này tiến về phía họ, đặt tay lên đầu họ nói là: “Các con, ta muốn gặp các con.” Thế là bốn nàng ở trong giấc mơ đều bật khóc. Họ chưa bao giờ bật khóc ở trong cuộc đời, bởi vì một Nữ Pháp sư không có quyền bật khóc, họ không bật khóc trước ai trừ Cha họ, họ không bật khóc trước ai vì điều thánh khiết của họ, và khi họ tiếp xúc với điều đấy, nước mắt họ cứ rơi ra. Họ cảm thấy trong trái tim họ có một điều gì nhói đau sâu thẳm, và họ biết rằng họ đang được gọi, họ biết rằng họ có Cha. Lần đầu tiên trong đời, họ biết họ thật sự có Cha, bởi vì họ biết những người mang thân phàm xác tục kia không phải là Cha họ, và họ bật khóc. Thế rồi ông nói với họ rằng: “Các con hãy đến vùng đấy (Cửa Đạt), sẽ có một hồ to lớn vô cùng, nơi đấy ta có để một vật, người duy nhất trong các con lấy được vật đấy sẽ sống, ba người kia sẽ chết.” Nói rồi người đàn ông đấy biến mất. Và họ nhìn nhau, trong một khoảnh khắc giấc mơ cuối cùng trước khi họ bị trả lại không gian thực, họ nhìn thấy nhau trong một sự thương cảm vô cùng, trong một sự đồng cảm không thể nói lên lời, không có sự đố kị, không có sự ghen ghét, không có sự sợ hãi, không có ý niệm về cái chết. Họ trở về thực tại trong một khoảnh khắc khi nhìn thấy nhau như thế.

Khoảng độ ba tháng sau họ cùng tụ tập bên hồ. Hồ rộng mênh mông, không một bóng người, không một bóng thuyền, dường như con người không thể tìm ra nơi đây, nó quá đỗi thiêng liêng, quá đỗi thánh khiết, quá đỗi hùng mạnh, không ai có thể đến được, xe ngựa từ cách đấy khoảng một dặm đã dừng lại rồi. Vùng Cửa Đạt, đấy là nơi gốc của huyện Thường Xuân, sau này sẽ là nơi xuất sinh Đế Vương họ Lê: Lê Lợi. Đấy là khởi nguồn của những huyền tích họ Lê. Quay trở lại, vào khoảnh khắc họ gặp nhau, lúc đấy tự nhiên Trời Đất đang âm u trở nên tỏa rạng, mặt nước đang thấp trở nên cao, núi đang trông mòn mỏi bỗng trở nên xanh tốt, cây đang héo úa tất cả đều nở hoa ra trái. Khi họ gặp nhau Thiên Tượng đều biến đổi, vì đấy là một khoảnh khắc khủng khiếp.

Họ cùng nhìn xuống dưới đáy hồ, sâu dưới đáy hồ có một viên ngọc rất lớn, giống như viên ngọc trai, cả miệng hồ giống như một miệng trai mở rộng, bên dưới là một viên ngọc sáng lấp lánh. Viên ngọc trai đấy chỉ nhỏ giống như đầu ngón tay, nhưng các vị Mẫu đấy đều quyền năng, họ đều có thể thấy ánh sáng đấy. Người thường mà thấy thì sao? Người thường chỉ thấy một mặt hồ phẳng lặng, tầm thường. Rồi lúc đấy Lâm Cung Thánh Mẫu lên tiếng: “Ta sẽ nhảy xuống trước, nếu các muội không thấy ta thì các muội không cần phải gọi ta nữa, người tiếp theo hãy xuống.” Nói xong Lâm Cung Thánh Mẫu nhảy xuống, nàng biến mất, chỉ thấy một chút sủi bọt lên từ đáy hồ, giống như hiến tế vậy. Một người thường mà nhìn cảnh đấy sẽ nghĩ gì? “Người này điên rồi! Nhảy xuống đấy chết rồi!” Nhưng đối với Lâm Cung Thánh Mẫu không có điều đấy, khi nàng chìm xuống, chỉ một chút tăm hơi, cuối cùng đã thấy nàng chìm rồi, cái ánh của viên ngọc trai ánh lên, trong Thiên Nhãn của mọi người nhìn thấy rực lửa màu hồng rạng rỡ.

Thế là Lâm Cung Thánh Mẫu đã đi, đến lượt Đông Cuông Thánh Mẫu ra, lại nói là: “Muội sẽ đi thứ hai, nếu như muội không nổi lên thì mọi người hãy nói với các con của muội, là muội đã ở đây và muội là một phần của tất cả mọi người.” Rồi Đông Cuông Thánh Mẫu nhảy xuống, lúc nàng vừa đi xuống thì có một con Giao Long xuất hiện, trông vô cùng dữ tợn, nó dài khoảng độ 15 mét, thân thể trông đầy gai sắc nhọn, và nó chộp lấy nàng, nàng chỉ nhìn nó mỉm cười. Khi con Giao Long chộp được nàng, nó nuốt trọn nàng vào trong bụng, rồi lập tức chui xuống dưới hồ. Mặt nước trông vô cùng dữ tợn, tất cả từng hơi nước một gợn lên như chuẩn bị một cơn sóng thần, rồi “Đùng!” một tiếng, tất cả từ dưới đáy hồ giống như một cú nổ lớn, toàn bộ nước dâng lên trên như từ đáy hồ có một vụ nổ, toàn bộ nước dâng lên trên dạt vào bờ. Một cơn sóng lớn cao mười mét giống như cuốn phăng mọi thứ đi, nhưng nước không chạm vào được hai Thánh Mẫu còn lại. Lúc đấy ánh sáng ở bên dưới trở nên màu sắc đen ảm đạm, và bắt đầu cây cối, tất cả thế giới xung quanh cũng trở nên ảm đạm.

Lúc đấy La Bình Công Chúa mới quay sang nói với Thượng Ngàn Thánh Mẫu là: “Đại tỉ xuống đấy với trái tim son sắt, với đan tâm, nhưng Đông Cuông tỉ xuống đấy với trái tim còn vướng bận Tình nhân gian. Giờ nếu chúng ta cùng xuống, nếu chúng ta chỉ cần lưu giữ một chút tình cảm, đau đớn, hi vọng, bất kể điều gì khiến Cha chúng ta, khiến Bố Cả của chúng ta không hài lòng, chúng ta sẽ phá hủy Ngài, chúng ta sẽ khiến cho sự có mặt của chúng ta ở đây trở nên vô nghĩa.” Rồi hai người nhìn nhau, ánh mắt trong khoảnh khắc đã hiểu nhau rồi, hai người liền nhảy xuống hồ, vừa nhảy xuống hồ thì từ trên Trời có một con Rồng vô cùng to lớn màu đen, Hắc Long từ trên Trời bay xuống, vừa định chộp đến hai nàng. Hai nàng nắm tay nhau, từ bên trong bàn tay nắm lấy nhau bỗng tỏa rạng ra hình một bông sen lửa rộng lớn vô cùng rồi nuốt hẳn lấy con Rồng đen, con Rồng đen trong khoảnh khắc đấy tan ra giống như tro bụi, không có một hình thức gì.

Nói rồi La Bình Công Chúa nhìn Thượng Ngàn Thánh Mẫu mỉm cười: “Chị em ta một khi đã làm việc lớn cho Cha, tất khiến cho Trời Đất đều rung động, yêu chủng các cõi đều tìm đến. Khi chị em ta xuống dưới đáy hồ, giả sử đồng tâm nhất trí có thể khai mở được sinh mệnh để phụng vụ Cha một lần nữa, thì tất từ nay sẽ đảm nhiệm những điều vô cùng to lớn, vô cùng mệt mỏi, và tất cả những gì chúng ta đã từng gây dựng ở nhân gian trở nên không còn có nghĩa nữa. Tỉ có sẵn sàng không?” Thượng Ngàn Thánh Mẫu mỉm cười nói: “Nếu như ta không thực hiện Sứ Mệnh này, cuộc sống của ta không còn ý nghĩa nào nữa. Bởi vậy muội hãy đưa ta xuống.”
Bởi vì Thượng Ngàn Thánh Mẫu không thể xuống được mặt hồ, bởi bàn chân nàng đã bắt đầu run rẩy, bởi vì nàng bắt đầu nhớ ra còn rất nhiều điều phải thực hiện. Nhưng trong khoảnh khắc run rẩy đấy, nàng biết rằng Sứ Mệnh của nàng thuộc về việc hiến sinh, để có thể đưa Cha trở lại thế gian một lần nữa trong hình hài của chính mình, đấy là điều nàng biết hơn hết. Nhưng trong khoảnh khắc đấy thật sự yếu đuối, thật sự yếu đuối bởi vì một Thánh Mẫu xuất hiện ở trên cuộc đời, họ không ngẫu nhiên xuất hiện, họ có rất nhiều mối quan hệ, họ có rất nhiều duyên nghiệp, họ có rất nhiều mối quan hệ với các chư Thần khác. Họ có rất nhiều điều cần phải giải quyết, tất cả những đứa con của họ, tất cả những người tin tưởng họ. Hôm nay họ đột nhiên xuất hiện ở đây, đột nhiên biến mất, vậy tất cả những điều đấy sẽ do ai đảm trách? Người còn lại cuối cùng sẽ không thể đảm trách điều đấy, bởi vì họ sẽ phải đảm trách những điều mà Cha giao cho họ, dưới hình hài của họ. Bởi vì Lời của Cha, bởi vì viên ngọc của Cha, bởi vì sinh mạng của Cha sẽ tái sinh dưới hình hài của họ, trong ý nghĩ của họ, trong hành sự của họ, các Cha sẽ trở lại trong các Pháp sư của mình. Cho nên nàng rất rung động, Thượng Ngàn Thánh Mẫu oai danh tột độ nhưng nàng bắt đầu run rẩy, còn bao nhiêu tộc người dưới chân nàng thì sao, bao nhiêu đứa con đã thờ phụng nàng thì sao? Nàng sẽ bỏ qua tất cả. Cho nên trong khoảnh khắc đấy, nàng trở nên hết sức yếu đuối, và nàng nói với La Bình Công Chúa: “Hãy đưa ta xuống.” Bởi vì nàng không thể tự xuống nữa, nàng không có đủ sức mạnh đấy, nàng yếu đuối và run rẩy biết bao.

La Bình Công Chúa mỉm cười nắm chặt lấy tay Thượng Ngàn Thánh Mẫu: “Chúng ta có sống thêm rất nhiều thời gian cũng trở nên vô nghĩa.” Nàng chỉ nói một câu như thế, rồi nàng cầm bàn tay và hai người lao xuống như một ánh sáng. Và viên ngọc nổ bừng ra một màu hồng rạng rỡ, xong rồi chuyển sang một màu da cam, rồi chuyển sang một màu xanh lá cây ngát, rồi rực lên một màu da cam, trở nên trong sạch hơn, rồi rực thành một màu hoàng kim. Rút cục từ dưới đáy hồ bay lên một thân thể nữ, cảnh này giống như Nguyên Anh của Trời Đất lúc đấy đã nở ra thành hình rồi, và lúc này bay lên hình ảnh, hình ảnh cuối cùng đấy chính là trông giống như La Bình Công Chúa. Nhưng không thể gọi nàng là La Bình Công Chúa được nữa, có thể gọi nàng là La Bình Công Chúa, là Thượng Ngàn Thánh Mẫu, là Đông Cuông Thánh Mẫu, là Lâm Cung Thánh Mẫu, bất kể tên gọi nào, nhưng không thể gọi nàng thế, chỉ có thể gọi nàng là: “Con gái của Tản Viên.”

Khi nàng xuất hiện, khi nàng bay lên từ tất cả những ánh sáng rực rỡ ấy, nàng đáp xuống đất, thì đôi chân nàng trở nên yếu mềm, nàng khuỵu xuống, bàn tay gần như không còn sức lực, khuôn mặt vô cùng đẹp đẽ. Nhưng lần đầu tiên bốn nhân tố này tổ hợp với nhau, lần đầu tiên con gái của Tản Viên đã xuất hiện. Nàng có xương cốt của tê giác, nàng có tinh thần của kim cương, nàng có da thịt của nhân sâm và vẻ đẹp của người thiếu nữ, của một Nữ Pháp sư. Nhưng từ nay nàng sẽ không có quyền năng nào cả, bởi vì lúc đấy là lúc vô cùng yếu đuối, bởi vì nàng phải dùng tất cả sự yếu đuối của mình để kìm giữ năng lượng lớn lao của Cha mình. Cho nên nàng sẽ vô cùng yếu đuối, nàng sẽ không thể được bảo vệ và nàng sẽ quên hết sạch mọi quyền phép, bởi vì từ nay nàng được tái sinh. Ánh mắt nàng ngơ ngác, nàng nhìn ra toàn bộ thế gian ở trước mặt, một vùng hồ núi mênh mông, một người con gái yếu đuối, không hề có sức lực.

Khi nàng vừa chợt đứng lên, thân thể trần truồng, thì có một con hổ xuất hiện trước mặt nàng, trông mặt nó vô cùng hung dữ, ánh mắt tỏa ra một tinh quang đen tối. Khi con hổ này vừa tiến đến gần nàng thì bắt đầu tất cả những muông thú ở trong rừng, từ những loài rắn đến các loài chim, lợn rừng, thỏ… rất nhiều loài cùng tụ tập trước mặt nàng, tất cả đứng chắn trước mặt con hổ, lượng thú càng ngày càng đông giống như một bức tường bằng thú, tất cả cản lại. Nàng không hiểu chuyện gì đang diễn ra nữa, nàng chỉ biết bước, và chân nàng vừa bước lên mặt hồ thì nàng nổi ở trên mặt hồ, nàng chạy đến đâu thì mặt hồ giống như những bước đệm, biến thành những cái bóng nước, những bông sen bằng nước đỡ chân nàng đến đấy. Và nàng cứ thế chạy thoát ra khỏi vùng đấy, sau lưng là con hổ dữ, bao nhiêu muông thú đặt niềm tin ở nàng, và nàng chạy mãi về phía ánh mặt trời.

Đấy là sự ra đời của La Bình Công Chúa.

La Bình Công Chúa cứ chạy mãi. Nàng là La Bình, bởi vì nàng lấy hình dạng của La Bình. Nàng cứ đi mãi đến lúc nàng ngất đi. Khi nàng tỉnh lại thì thấy đang ở trong một khu vực toàn những màu đá đỏ hết sức rực rỡ, giống như một cung điện bằng ngọc vậy, rồi nàng bước thêm một chút nữa, bên ngoài tấm biển của khu vực đấy có ghi ba chữ: “Hỏa Môn”. Thế là nàng liền bước vào bên trong, nàng thấy trên thân thể nàng bắt đầu xuất hiện những hình bóng như những bông hoa lửa, trông đẹp đẽ vô cùng, rồi bắt đầu những bông hoa màu ánh kim, vàng rạng rỡ, và nàng cứ bước như thế trong một nơi giống như là những hành lang của một cung điện khổng lồ bằng đá quý. Nàng cũng không biết là đẹp hay xấu bởi vì tư tưởng của nàng không rõ ràng, cho đến lúc nàng bước đến bên một cái ngai bằng đá rồi nàng gục xuống, và bỗng nhiên bao nhiêu kí ức của cả bốn người bắt đầu tụ tập về trong đầu nàng. Và nàng bắt đầu mở mắt, nàng bật thốt: “Đây là nơi của Cha ta từng ngự.” Rồi trên thân thể nàng bỗng nhiên xuất hiện một chiếc áo, một chiếc cánh áo màu xanh trông đẹp đẽ vô cùng, một chiếc áo màu xanh lá cây trông giống như gấm, sáng lấp lánh. Rồi nàng bước đến một cuốn ghi: “Hỏa Môn Bí Quyết”, nàng cầm cuốn “Hỏa Môn Bí Quyết” giở ra, bên trong có rất nhiều những điều được ghi chép về ý nguyện của Cha nàng, và nàng bật khóc. Nàng đọc đến đâu nước mắt rơi lã chã đến đấy, nước mắt rơi đến đâu thì trông nàng trở nên trẻ trung đến đấy, nước mắt rơi đến đâu thì da nàng lại hằn lên những vệt sáng long lanh đến đấy. Đấy chính là cái động nơi trước khi Nguyệt Quang giáng thế đã ở trong đấy cùng với Tản Viên Sơn Thánh, ở bề mặt nhân gian đấy là một nơi toàn bằng ngọc như vậy, ở không gian khác thì chỉ là một hang động bằng đá.

Thế là La Bình Công Chúa ngồi trong hang động tu luyện năm này qua năm khác. Nàng không biết bao nhiêu thời gian đã trôi qua, nhưng trong khoảnh khắc đấy, nàng cảm giác là một phần nào đấy như trong linh thức của mình, nàng vẫn dạo chơi khắp thế gian, nàng vẫn đi khắp thế gian, hiểu biết tất cả thời cuộc, nàng chứng kiến tất cả những tang thương, tất cả những điều do ma quỷ gây ra, tất cả những điều xảy ra ở trong dưới mạch chân của Cha nàng, ở trên thân của Cha nàng, của Tản Viên Sơn Thánh, nàng biết tất cả những điều đang diễn ra như thế.

Một ngày nàng bỗng cảm thấy trong tâm hồn vô cùng xúc động, rồi nàng thấy có hai người khác tìm đến. Một người mặc áo màu trắng, trông người này vô cùng rạng rỡ, ánh mắt rất tươi vui, giống như là thân thể người ta nối thông với Trời; và một người mặc áo màu đỏ, người này giống như tỏa ra một hơi ấm, ấm áp vô cùng, giống như có thể kết nối vạn vật. Hai người này tìm đến, thế là ba nàng chào nhau, rồi giống như họ đã biết nhau vậy, họ cùng ngồi xuống và nhìn vào ánh mắt nhau, họ cứ nhìn vào ánh mắt nhau mãi như thế cho đến lúc họ ngồi trên ba bông sen bằng lửa, bay lên bầu trời. Đấy là sự ra đời của Tam Tòa Thánh Mẫu.

Thân của các nàng tất cả đều cấu thành từ sừng tê, kim cương, nhân sâm, mỹ nữ. Cho nên hẳn là nếu là Pháp sư, chắc là phải đẹp lắm nhỉ?

Sứ Mệnh mà La Bình Công Chúa và hai vị Thánh Mẫu được nhận, họ quản ba điều: thứ nhất là tất cả vùng trời phía bên trên Tản Viên, đấy là vị Mẫu màu trắng, Mẫu Thiên – Thiên Y A Na. Thứ hai là tất thảy con người sống ở trong vùng bao bọc của núi, núi giống như những cánh tay lớn ôm trọn những vùng đồng bằng rộng lớn, những vùng duyên hải, những vùng biển, tất cả những điều đấy thuộc về phần quản của mẫu Liễu. Thứ ba là để chống lại tất cả những sự xâm phạm từ bên ngoài, tất cả những sự làm biến đổi, xê dịch sông núi, đấy là nhiệm vụ của Mẫu Thượng Ngàn – La Bình Công Chúa.

Câu chuyện của Mẫu La Bình là câu chuyện của sự hiến sinh, sự hi sinh. Giống như trong một đất nước, quân đội là lực lượng hi sinh trước tiên, đấy là lực lượng của sự phụng hầu, phụng hiến, đấy là một lực lượng để bảo vệ bằng tất cả tấm thân của họ, trong khi một đằng sẽ bảo vệ bằng tất cả sự tài năng của họ, và một đằng bảo vệ bằng tất cả thiên chất của họ, trí tuệ của họ. Trong ba người đấy, Mẫu Thượng Ngàn – La Bình Công Chúa giống như sức mạnh, giống như thể chất, Đệ nhất Tiên Thiên Thánh Mẫu Liễu Hạnh thì giống như trái tim, và Mẫu Thiên thì giống như lí trí, giống như Thân - Tâm - Trí vậy, ba lớp đấy bảo vệ một thế giới chúng sinh. Con người luôn luôn cần sự bảo vệ, luôn luôn có những vị Thần đang dùng toàn bộ thân thể mình, những đứa con của mình để bảo vệ tất cả những điều đấy. Họ dùng những Nữ Pháp sư của mình để thực hiện nhiệm vụ của họ, cũng giống như Như Lai dùng Bồ Tát để thực hiện những Sứ Mệnh mà Như Lai cần. Con người đang sống ở trong những ơn huệ thiêng liêng bằng sự vô ơn một cách tráo trở. Trong khi con người đáng lẽ phải biết được sự bảo vệ đấy, biết ơn nó, đồng hóa với nó, là một phần của nó, thì con người bình thường thường sống trong những tính toán căn bản nhất, bằng Danh – Lợi – Tình, bằng sự từ chối Thần.
Trong phép tu luyện thường có ba loại người: một loại người xứng đáng trở thành Thần, một loại người có thể dẫn người khác trở thành Thần, một loại thứ ba – loại sinh mệnh thứ ba, có thể quản lí Thần. Trong nhà Phật gọi ba sinh mệnh đấy: có thể quản lí được Thần, đấy là Phật, quản lí tất cả các linh thể dưới ông ta; có thể dẫn người khác thành Thần, đấy là Bồ Tát; và có thể trở thành Thần, đấy là La Hán. Ở đây cũng vậy, La Bình Công Chúa chuyên giúp những ai có thể trở thành Thần. Mẫu Liễu Hạnh chuyên để đảm nhiệm và để dẫn dắt những vị Thần khác, những người để họ đi dần đến con đường thành Thần. Và quản lí tất thảy các Thần, đấy là Mẫu Thiên, quản lí tất cả sự tồn tại của họ.

Nhưng ở trong sự xuất hiện của Tam Tòa thì họ đồng đẳng, họ không phân chia, bởi vì họ thể hiện ba ý chí của chư Thần. Ý chí thứ nhất của chư Thần là: dẫn lối cho tất cả các Linh Thần, cho con cháu, cho đệ tử, cho Môn Phái. Ý chí thứ hai dùng để dẫn lối cho những người đấy có thể tu thành. Ý chí thứ ba: để dẫn dắt những người có duyên đến với Môn Phái. Đây cũng chính là ba phần của Độ nhân. Ba phần của Độ nhân bao gồm: thứ nhất là dẫn người có duyên đến với tu luyện, tìm được người có duyên hoặc là gieo cái thiện duyên cho họ; phần thứ hai có thể dẫn họ tu luyện được. Đầu tiên là dẫn họ đến Môn Phái, sau đấy có thể dẫn họ tu luyện, sau đấy có thể khiến cho họ thành Thần, đấy là ba ý chí của chư Thần. Ba ý chí này xét thế nào? Đồng đẳng. Dẫn người ta đến cũng cao quý như giúp người ta tu, cũng cao quý như giúp người ta viên mãn, bởi vì đây là ba ý chí của chư Thần, vì một người phải làm cả ba và cũng có thể là ba người làm ba việc. Nhưng dù thế nào, đây là chỉ thực hiện những ý chí của chư Thần, cho nên điều đấy hết sức vĩ đại, hết sức cao cả. Bởi vì khi họ muốn làm theo ý chí của Thần, họ chính là một phần của Thần, họ chính là Thần.

Sự xuất hiện của Tam Tòa Thánh Mẫu, đấy là sự xuất hiện của ý chí của chư Thần tại nhân gian, sự xuất hiện của Chân Thần tại nhân gian. Họ sinh ra để bảo vệ cõi này, để cõi này có thể duy trì giống như nó nên là. Chư Thần tối linh trích xuất ra ba đứa con gái này, để ba ý chí này có thể trở thành dưới hình dạng ba Nữ Pháp sư, đấy chính là tinh thần của các Ngài. Và nếu tinh thần này bị ô nhiễm, nếu ý niệm này bị ô nhiễm, chính các Ngài cũng sẽ bị ô nhiễm; nếu ý niệm này bị hủy hoại, chính các Ngài cũng sẽ bị hủy hoại, nếu ý niệm này bị tổn thương, chính các Ngài cũng bị tổn thương. Nhưng các Ngài không thể ở đây bằng Chân Thân của mình, bởi vì nó sẽ khiến cho các Ngài rơi vào trong mê, các Ngài ở đây bằng sự thánh khiết của mình, vì thế các Mẫu đã ra đời. Truyền thống ra đời của các Mẫu là một truyền thống xuyên suốt mọi dân tộc có núi đá, bởi vì Bố Cả luôn luôn xuất hiện với những đứa con gái của mình. Ngài có cách để hợp nhất với họ, Ngài có cách để truyền thêm Thần Khí cho họ. Nhưng dù lúc nào đi nữa, điều quan trọng nhất: ai trong số họ - giống như câu chuyện của La Bình Công Chúa - dám phụng sự các Ngài, ai là người đến cuối cùng thấy là nếu không thực hiện Sứ Mệnh thì mình không mang một ý nghĩa nào cụ thể cả, đấy là những người phụng Thần, đấy cũng chính là thể hiện uy đức lớn lao của chư Thần. Cũng như La Bình phụng sự Tản Viên Sơn Thánh.

Tất nhiên bằng sự xuất hiện của mình, bản thân họ không thể hiểu được một điều. Khi các Thánh Mẫu xuất hiện, tự họ không biết rằng sự tồn tại của họ chính là sự tồn tại của chư Thần. Họ chỉ biết họ đang dâng phụng, họ chỉ biết là bằng những điều cao quý nhất của mình, họ sẽ thực hiện ý chí của Thần. Họ không biết họ chính là Thần hiện thế trong hình hài của họ, họ không thể nghĩ được như thế. Chỉ khi những Sứ Mệnh kết thúc họ mới phát hiện ra điều đấy, họ mới biết được rằng mình thực sự là một phần của Thần bằng cách thực hiện không gì khác ngoài Ý chí của Thần. Và việc thực hiện Ý chí của Thần là một công cuộc hung hiểm. Bởi vì họ bằng ý chí của họ, họ phải tự lĩnh ngộ Ý chí của Thần và thực hiện theo nó. Bởi vì dù họ quyền phép đến đâu, họ vẫn chưa phải là một vị Thần đích thực, họ vẫn phải sử dụng một sự kém hơn Thần để thực thi một điều mà Thần muốn, và sau khi hoàn thành điều Thần muốn họ mới có thể trở về với Thần, và phải thực hiện đủ những điều Thần muốn họ mới có thể đột phá lên một tầng, đem thân thể của mình lên một tầng cho đến lúc họ trở về với Cha của mình, và họ ở đấy vì những Sứ Mệnh. Họ ở đấy bởi vì Sứ Mệnh, bởi vì sự khẳng định sự tồn tại của chính Cha họ, và họ một lần nữa, họ không thể biết được rằng sự tồn tại của họ là sự tồn tại của chính Cha họ. Đây là một điều họ không thể tưởng tượng nổi, và ngay cả khi biết sự thật này, họ vẫn không thể tồn tại như thể mình là một phần của Cha họ. Bởi vì họ vẫn nghĩ mình là một chủ thể riêng biệt, họ vẫn ăn uống đi lại, họ vẫn phải hành sự, họ vẫn phải được gọi tên, họ vẫn phải đem danh của mình ra để đối đãi với mọi việc, họ vẫn phải xử lí với tư cách mình là một ai đấy. Cho nên họ biết nhưng họ không thể tưởng tượng nổi, họ không thể đồng nhất nổi vào cái khoảnh khắc khi những Sứ Mệnh đang còn kéo dài, họ không thể nghĩ mình chính là Cha, họ không thể biết điều đấy. Và ngay cả biết, nhắc lại, họ cũng không thể sống với điều đấy.



Nhưng đấy là một cuộc đời Thần Thánh và tuyệt vời đúng không?



Tin tưởng được không?

Lý thuyết "thân thể là chung cư của giun sán và vi khuẩn" thật ghê gớm. Theo đó:

1. Xác thịt căn bản là một thể cộng sinh với giun sán. Giun sán và vi khuẩn bảo vệ chúng ta, nuôi chúng ta nếu ta nuôi nó. Cũng cùng nguyên lý đó, giun sán nuôi ta như ta nuôi lợn. Tàn nhẫn. Vô tình.

2. Thứ duy nhất có vẻ tinh túy hơn là Não. Không phải Hệ thần kinh.

3. Do đó xác thịt cũng như đất, đầy các loại vi khuẩn vi trùng giun sán, nhưng từ đó lại nuôi được cây cối (là chúng ta).

Em biết đó, vì anh lập dị, nên anh thường có một cái nhìn cực đoan gần như phi lý. Anh nhìn con người thế này: Xuyên qua da thịt họ, anh chỉ thấy giun sán và vi khuẩn, hoặc chỉ thấy Não. Các nhà văn thường nói: phần con và phần Người. Hợp thành con-Người. Chí lý.

Nếu ai tìm đến anh để nói chuyện đứng đắn, tử tế, có đạo lý, anh nhìn họ tinh tươm như Não.

Nếu ai tìm đến anh nói chuyện xấu xa, ác ý, tư tâm, quá quắt, bất chính, anh nhìn họ như giun sán.

Sáng Chủ nhật trời mưa, mỗi lần mưa nhà anh lại có một vài con giun dẹt giun tròn gì đó bò từ dưới đất lên sân. Giun không ra giun, đỉa không ra đỉa, nhớp nhúa, không chết. Cắt ra thì nó biến thành hai con.

Đến khiếp. Cũng như đám người mất trí. Nói với họ một điều tốt đúng, họ thể nào cũng nghĩ ra hai chuyện tệ hại. Đáng khinh.

Lại làm anh nghĩ đến đám người mất Não, chỉ còn nhục thể.

Mỗi lần một con giun nào đó la liếm gần anh, anh sẽ quay lưng lại.

Và đi.

Kệ chúng chết dưới Mặt trời đỏ lửa.




Thứ Sáu, 28 tháng 7, 2017

Lại phải tính

1. Nhân tâm của nó lớn thế, lại tạo lỗ hổng cho đám người mất lí trí, bại hoại mò đến. Anh không đuổi nó sao được? Có điều lại phải nghĩ tính. Sau 3 tháng thì trục xuất nó đi, đừng cho nó trở lại. Làm sao cho nó vô dụng hẳn đi, chẳng gây hại nổi, thế là được.

2. Con người là con người. Tham hưởng thụ nhân gian hơn là nguyện tu. Vì thế, nếu họ chỉ nửa tu nửa sống, thì cứ để họ như vậy. Muốn nâng họ lên, họ lại đâm ra oán. Để họ oán rồi, càng khó giáo dục. Lại phải tính xem, trọng trách trao ai thì đáng.

3. Đôi lúc anh nhớ lại thời gian trước. Nghĩ rằng con người thật khó độ. Đến đó lại phải tính. Gia công cho ai, kẻ đó phải xứng đã. Nhưng có khi con dao cắt đá thật ra là dao mẻ, có điều vẫn phải dùng nó. Không dùng nó, thì không có cái tốt hơn. Vạn bất đắc dĩ, chỉ ngại nó tưởng mình là dao sắc.

4. Việc lớn phải làm vẫn phải làm. Đến lúc cần người đúng là cần người. Nếu cần, thì không ngại mà tính nước kết giao với người bên khác. Dép mình rách rồi, thì mua dép mới. Một đợt mới, nhất định xuất sắc hơn đợt cũ.

5. Phải tính, thì nhất định phải tính.

Thứ Hai, 17 tháng 7, 2017

Phù Vân, Ngoại truyện (06)

Phù Vân, Ngoại truyện 05 (2)

Có một chuyện rất nổi tiếng trong dân gian, ai cũng biết là hồi nhỏ mẫu thân của Bạch Vân Cư Sĩ là người xem tướng cực giỏi, một kì nhân huyền học, rồi bà gặp phụ thân của Bạch Vân Cư sĩ. Bởi vì bà cực giỏi huyền học, lại có một ước mơ làm Đế Vương, bà có ước mơ là con bà hoặc chồng bà phải thành Đế Vương. Nhưng trong cuộc đời khốn khổ của bà không gặp được. Bà cũng về vùng Hải Dương, vùng Hải Dương là vùng họ Mạc nổi lên mạnh mẽ. Họ Mạc ở Hải Dương thật đáng sợ lắm, đấy là dòng dõi người Hoa, ở đấy từ bao nhiêu đời. Từ thời Trần, thời Mạc Đĩnh Chi nổi lên trở về trước, nó cũng là một dòng quí tộc, nhưng trước đó nó là một dòng họ khủng khiếp ở vùng đấy - quí tộc địa phương chiêu tập các lực lượng. Đấy là một dòng họ dữ dội, kinh khủng.

Tại sao dòng họ đấy kinh khủng đến thế? Bởi vì ở đấy có Long khí, Mộ Trạch mà, vùng Hải Dương, Vũ Hồn tạo ra một giếng khí chiêu Long khí ở đấy. Địa mạch ở đấy cũng rất tốt, nói chung, vùng ở đấy là vùng tốt. Hải Dương, Hải Phòng là những vùng mà Long khí, Thủy khí rất tốt. Nhưng Thủy khí và Long khí hòa với nhau thì con Rồng hơi yếu, bởi vì Thủy Long không phải là loài thống trị, Thủy Long là loài dung dưỡng vạn vật chứ không phải loài thống trị. Nếu về loài thống trị phải kể đến Kim Long - thống trị rất lâu dài, Hỏa Long thống trị rất mãnh liệt, Thiên Long thống trị theo Đạo Trời - tạo ra những triều đại ảnh hưởng suốt một thời gian dài lâu, Thanh Long thì không thể thống trị - thường trốn ở nơi rừng cao núi sâu.

Mẫu thân của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Bạch Vân Cư Sĩ, có thể thêm tên bà ấy vào nhưng chuyện này không cần thiết, trong câu chuyện của Tiên nhân, tên không có thật, và chúng ta có thể gọi là Bạch Vân Cư Sĩ, chúng ta cũng gọi ông là Nguyễn Bỉnh Khiêm, có thể tên thật của ông không phải Nguyễn Bỉnh Khiêm, thứ mà nhân gian biết nhiều khi không phải sự thật. Quay trở lại, câu chuyện rất nổi tiếng, mẫu thân ông mới nhìn phụ thân ông, xem tướng người này đẻ ra được con quí, người này lại thông minh, đĩnh đạc, bà ấy cũng thích. Thực ra bà ấy thích là thế nào, trong tuổi trẻ người ta khi đi lang thang, dù tài năng đến đâu rất dễ bị hấp dẫn bởi những người trông đẹp đẽ. Vậy là bà ấy chọn một người thông minh, đẹp đẽ, hi vọng hài tử mà họ đẻ ra sẽ là vua. Thế nhưng người tính không bằng trời tính, đêm tân hôn thì ông chồng vào sớm hơn, thế là vận đẻ con của họ đẻ được con có thể thành kì tài chứ không thành vua được. Cho nên trong lúc Bạch Vân Cư Sĩ còn ấu thơ đang lớn lên, đến một hồi bà nhìn chồng con mình, có nhiều chuyện xảy ra mà dân gian kể thêm thắt vào không có thực, nhưng bà ấy chán vô cùng, bởi vì con không thể thành vua, chồng không thể thành vua, bà ấy chẳng lẽ chôn chân làm một người thôn nữ tầm thường? Dù đấy là dòng họ quí tộc đi nữa bà ấy cũng không cần, bởi vì người mang chí lớn không mắc vào tiền bạc bao giờ. Cho nên một ngày nọ, bà chán, bỏ đi, lúc đấy Bạch Vân Cư Sĩ còn nhỏ, cái tình này dứt ra vô cùng đau đớn. Con mất mẹ, đại nghĩa nhân gian không có, người càng trọng Đạo, người càng gần với Đạo – người mà còn bé ấy, thì đối với họ mẹ càng quan trọng, vì Đạo là có chữ tình lớn nhất của nhân gian, một trong những đại nghĩa nhân gian.

Bạch Vân Cư Sĩ lúc bé ấy đau khổ vô cùng, khóc lóc đến mấy ngày, ngồi ở ngoài thềm sáng trưa chiều tối trông mẹ về mà không về. Thế là một ngày nọ có một người già cả đến, trông rất khổ sở. Ông ta vừa đến vừa thở dốc ra rồi ngồi bệt xuống, nói: “Này cậu bé, cho ta cốc nước.” Bạch Vân Cư Sĩ vẫn không vào, vẫn khóc, vẫn đứng nhìn ra bảo: “Con vào lấy nước cho ông rồi mẹ con về con làm sao biết được?” Ông ấy thở dốc nói: “Ta sắp chết ngay ở gần, mẹ ngươi thì sống ở tít xa. Ngươi không cứu người chết gần lại lo người sống xa, thế là không hợp với Đạo.” Bạch Vân Cư Sĩ nghĩ điều đấy cũng đúng, liền đưa nước ra. Ông già đấy uống xong, gương mặt tự nhiên trở lại hồng hào, ánh mắt lấp lánh. Bạch Vân Cư Sĩ nhìn vào ánh mắt đấy liền nghĩ: “Dường như không phải ông già này sắp chết”, thế là liền bảo: “Ông lừa tôi! Mẹ tôi về đây sao ông lại lừa tôi?”. Ông ấy bảo là: “Mẹ ngươi có về đây đâu?” – “Nhưng rõ ràng ông lừa tôi!”, thế là Bạch Vân Cư Sĩ, lúc ấy là một đứa trẻ, giãy nảy lên.

Người đấy mới đứng lên, bắt đầu thấy như có một lớp bụi bẩn bên ngoài ông ấy bị giũ xuống đất rồi bỗng nhiên không thấy đâu, tất cả hiện ra một vẻ Tiên phong Đạo cốt, ánh sáng màu trắng tỏa lấp lánh xung quanh. Bạch Vân Cư Sĩ cứ ngơ ngác nhìn, đối với đứa bé trước cảnh tượng đấy là vô cùng chấn động. Rồi Bạch Vân Cư Sĩ vốn đã nghe nhiều chuyện cha mẹ hay kể từ bé, nên hỏi: “Ông có phải là Tiên không?”. Vị này mới cúi xuống hỏi: “Ta là Tiên thì sao?” – “Ông là Tiên ông có thể đưa mẹ con về không?” – “Bà ta không nguyện ý thì ta đưa bà ta về thế nào?” – “Ông có thể đưa con đến chỗ mẹ con không? Điều này thì con nguyện ý!”. Thế là ông ấy bảo: “Ngươi vì cố chấp vào tình mà muốn đến chỗ mẹ ngươi, chuyện nghịch Đạo như thế, ta mang ngươi đến chỗ mẹ ngươi làm sao mà đúng được?” – “Vậy thì con phải làm sao để ông đưa con đến chỗ mẹ con?”. Vị ấy nghiêm mặt nói: “Mẹ ngươi vốn tinh thông cầm kì thi họa, y dịch lí số. Có điều mẹ ngươi thông hiểu một chút cho nên muốn cướp mệnh Trời làm Đế Vương, ngươi có biết tội nghiệt đấy là lớn lao không?” Bạch Vân Cư Sĩ ngước lên hỏi: “Làm sao lại là sai? Mẹ con chỉ hi vọng vào con thôi, con vốn không đạt đủ tiêu chuẩn, cho nên con mới khốn khổ như thế. Chính con khiến cho mẹ con thất vọng, chính con khiến cho mẹ con bỏ đi, con chính là tội nghiệt!”, nói xong liền ngồi phịch xuống khóc tiếp.

Ông Tiên liền chạm vào đầu Bạch Vân Cư Sĩ, Bạch Vân Cư Sĩ liền cảm giác đỉnh đầu mát rượi rồi nóng hừng hực, ánh mắt tự nhiên dãn ra, rồi toàn bộ thân thể hết sức thoải mái, những nỗi buồn khổ từ đâu đi hết; trong ý nghĩ thì vẫn còn chuyện là phải khóc vì mẹ nhưng lúc này cảm giác không khóc được nữa, liền đứng lên, ánh mắt rất tươi cười thưa: “Xin Tiên Ông nói cho con nghe đi.” Tiên Ông lại nói: “Để ta nói cho con hay, mẹ con chính vì cố chấp vào trong việc thay đổi vận mệnh, muốn tiếm đoạt nhân gian, tiếm đoạt Thiên Mệnh; cho nên chính vì thế mới gây ra chia lìa đau khổ. Con bảo là mẹ con vì con mà chia lìa đau khổ, điều đấy không đúng. Chính vì cái tâm tham chấp muốn thay đổi nhân gian kia mới gây ra chia lìa đau khổ.” Bạch Vân Cư Sĩ liền nhỏ một giọt nước mắt lớn rồi nói: “Chính vì mẹ con nghịch Đạo mới khiến cho toàn gia chia lìa đau khổ, đúng không Tiên Ông?” Vị Tiên Ông cúi xuống, mỉm cười nói: “Nếu ta dạy phép cho con, con có sẵn sàng sau này bảo vệ Thiên Mệnh của nhân gian không?” Bạch Vân Cư Sĩ nói: “Con sẵn sàng!”, rồi ngửa mặt lên, ánh mắt rất kiên quyết, chắc chắn. Vị Tiên Ông lại nói: “Khi con đã học được phép rồi, con chỉ cần hứa với ta một chuyện, đấy là suốt đời con bảo vệ tất cả những gì mà Thiên Địa đã an bài, giữ cho Đế Vương là Đế Vương, Quân Thần là Quân Thần; không có ai xung tiếm. Nếu ai được Mệnh Trời thì phải giữ cho người đấy được Mệnh Trời, nếu ai không được Mệnh Trời thì không cho người đấy được thành Mệnh. Cho nên đấy là con giữ cho Thiên Mệnh, giữ cho Đạo lí không chia lìa đau khổ, rồi ắt có ngày con sẽ gặp được mẹ con.” Đứa bé mỉm cười, nụ cười rạng rỡ như hoa sen, lại hỏi vị Tiên Ông: “Nếu như con có thể làm được những điều Tiên Ông nói thì bao giờ con có thể gặp được mẹ con?” Tiên Ông liền giơ ngón tay ra nói: “Ba trăm năm! Ngươi sẽ gặp lại được mẹ ngươi.”

Đúng lúc đấy thì ở trong nhà, phụ thân của Bạch Vân Cư Sĩ mới bước ra, chắp hai tay nhìn vị Tiên Ông rồi quì lạy xuống từ xa, kêu lên tiếng: “Sư Tổ!”. Vị Tiên Ông cất lời: “Ta không nhận ngươi là học trò”, nói rồi phất tay một cái, thế là bố Nguyễn Bỉnh Khiêm đang định quì xuống, hai khuỷu tay chuẩn bị chạm đất - bởi vì hành lễ ngày xưa trước bậc đại tôn kính thì hai khuỷu tay phải chạm đất, bàn tay để phía trước, toàn bộ thân người cúi xuống, đầu đập chạm đất, đấy là nghi lễ như thế - lại không quì được nữa. Nếu như hành lễ như thế, mà lại nhận lễ đấy thì coi như là có lễ nghi như vậy, nghi cách như thế thì cũng coi bằng thừa nhận rồi.

Về chuyện không hợp cách trong chuyện phụ thân Nguyễn Bỉnh Khiêm bái lạy Tiên Ông là thế này. Nếu như dùng một lễ để bái sư, tức là lễ dập đầu như thế, ‘ngũ đỉnh triều thiên’ như thế, hai bàn tay, cườm tay chạm xuống đất sau khi giơ lên trên trời, hai bàn chân cũng ngửa ra phía sau, ngửa lên trời, đầu đập xuống dưới đất, dạng như thế, khi dùng đại lễ đấy thì là lễ với Tôn Sư của mình thôi. Nhưng vị Hoằng Sơn Tiên Ông kia thì không nhận phụ thân của Bạch Vân Cư Sĩ làm đệ tử, cho nên cái lễ đấy ông ta kiên quyết không nhận, có dập đầu cũng không nhận. Nếu như dập đầu sau lưng ông ta, ông ta không biết thì thôi, nhưng trước mặt mà ông ta thấy thì ông ta lập tức phải quay lưng đi. Nhưng ông ta lại đang nhận đệ tử, tức là nhận Nguyễn Bỉnh Khiêm làm đệ tử, cho nên trong lúc có đệ tử trước mặt thì không quay lưng với ai cả, nên ông ta mới phất tay bảo phụ thân Nguyễn Bỉnh Khiêm phải đứng dậy. Trong Tiên Môn Chính Phái, mọi qui tắc, mọi nguyên lý về Nghi – Cách đều đạt đến độ tinh thuần, ‘lễ nghĩa viên minh’, không có điều gì sơ suất.

Cho nên vị Tiên Ông kia không muốn thừa nhận, phất tay một cái, phụ thân Nguyễn Bỉnh Khiêm đã phải đứng lên. Ông ta ứa một giọt nước mắt nói: “Ngài vẫn không nhận con sao? Không phải bởi vì Ngài không nhận con mà chính con lưu lạc thế này sao?” Vị Tiên Ông kia mỉm cười nói: “Ngươi tình duyên chưa dứt, đường nào cũng không thể vào cõi Tiên. Ngươi có Sứ Mệnh của ngươi, ắt ngươi sẽ gặp người đàn bà ấy; người đàn bà ấy vì gặp ngươi mà không thể chi phối được Thiên Mệnh, vì gặp ngươi mới tạo ra đứa bé này, đứa bé này ngày sau sẽ bảo vệ Thiên Mệnh.” Phụ thân của Nguyễn Bỉnh Khiêm mới giật mình thưa: “Phải chăng đấy là lẽ Trời, con vốn từ đầu đã không thể tu luyện?” Vị Tiên Ông lắc đầu: “Ngươi vẫn còn cơ duyên, có điều là chưa đến lúc; sau này con ngươi trở về nhận ngươi làm đệ tử, ngươi có tu luyện không?” Phụ thân Nguyễn Bỉnh Khiêm ứa một giọt nước mắt: “Con được gần với Đạo, xá gì chuyện trên hay dưới.” Nói xong Tiên Ông quay đầu, cầm lấy tay Nguyễn Bỉnh Khiêm nói: “Ta dẫn thằng bé này về Hoằng Sơn, ngươi chớ tìm lại, bao giờ nó trở lại ngươi hãy hay.” Nói xong liền dắt Nguyễn Bỉnh Khiêm đi, bước lên một đám mây trông mờ mịt giữa mây khói, đi ra khỏi vùng đất đấy, giống như vừa đến, giống như vừa đi, không có một dấu tích nào cả. Đấy là chuyện Bạch Vân Cư Sĩ.

Lại kể chuyện Bạch Vân Cư Sĩ lúc đến Hoằng Sơn, Hoằng Sơn ở Thanh Hóa, nhánh của Từ Thức. Khi đến Hoằng Sơn rồi, thế là có một ngày Bạch Vân Cư Sĩ lúc đấy lớn lên đã là một thanh niên, vô cùng tươi trẻ đẹp đẽ. Thời gian lớn lên ở trong lòng chỉ có một chí nguyện, là hiểu về lẽ Trời Đất, ai ứng Mệnh gì đảm bảo đúng điều đấy, đấy là Trời muốn gì, Đất muốn gì; Đất đã muốn như thế, Trời đã bảo như thế thì tất con người không thể chống, ai chống được là nghịch Mệnh Trời, sinh ra để bảo vệ điều đấy. Đối với Bạch Vân Cư Sĩ không có điều gì mâu thuẫn, đã xác định một chí nguyện về Trời Đất, trí huệ vốn thông minh đĩnh ngộ, lại tự động khai ngộ, liên tục đột phá trở thành kì tài ở trong phái Tiên Nhân Hoằng Sơn.

Đến một ngày, khi đấy Bạch Vân Cư Sĩ còn rất trẻ, vẫn chưa được xuất sơn; thế là có việc Sư Phụ đi vắng. Ngài mới ngồi ở đấy, ngồi ở đấy mãi cuối cùng tự nhiên cảm thấy gió mát hiu hiu, từ trên cửa động nhìn ra dãy Hoằng Sơn mênh mông vô tận, ánh nắng rực rỡ, cảm giác tấm lòng thư thái vô cùng, nhìn trời đất. Bạch Vân Cư Sĩ tự nhủ: “Ta nhất định bảo vệ non sông này!”, đang nghĩ như thế thì từ trên có một vị Tiên Cô hạ xuống, ánh mắt uy nghiêm lẫm lẫm nhìn Bạch Vân Cư Sĩ. Bạch Vân Cư Sĩ hỏi: “Thưa, Tiên Cô là ai vậy?” Vị Tiên Cô ấy nói: “Để ta nói ngươi hay, cứ theo dãy Hoằng Sơn này mà chạy, ngươi có biết không, sau này sẽ có một quốc gia mới thiết lập ở bên này và bên kia, đều là cùng một dòng dõi cả.” Rồi Bạch Vân Cư Sĩ hỏi: “Vậy là sao?”, Tiên Cô ấy nói: “Ngươi muốn bảo vệ non sông phải thuận theo thế của Đất, Đất có chia thì mới có hợp, Đất hợp thì mới ứng Mệnh Trời, ứng Mệnh Trời được thì Thiên Địa mới hợp nhất, Thiên Địa hợp nhất tất xuất kì tài. Ngươi sau này thấy sự chia rẽ của con người, đừng vì sự chia rẽ của con người mà thấy khổ sở, hãy vì sự chia rẽ của Đất rồi hợp nhất của Đất, thuận theo Mệnh của Trời mà thống nhất, lấy đấy làm chí lí, cứ theo đường đấy mà đi.” Rồi Tiên Cô chỉ xuống lối, bảo với Bạch Vân Cư Sĩ: “Ngươi cứ theo đường đấy mà xuống núi, không cần chờ Sư Phụ ngươi về nữa.” Bạch Vân Cư Sĩ mới ngơ ngác hỏi: “Tiên Cô, Tiên Cô không thể nói như vậy được! Tôi nhất định ở đây chờ Sư Phụ tôi về, Sư Phụ tôi không ban phó thì tôi không đi đâu cả.”

Vị Tiên Cô kia nghiêm mặt nói: “Đích thân ta tới đây là bởi vì Sư Phụ ngươi mệnh đã chẳng lành, vì ông ta không trở về được cho nên ta mới sai phái ngươi làm chuyện đấy!” Bạch Vân Cư Sĩ giật mình đứng lên, ánh mắt sáng rực nói là: “Tôi đã biết chuyện này! Khi Sư Phụ tôi đi, rõ ràng có hắc khí ở trên Ấn Đường, rõ ràng là điềm xấu nhưng Sư Phụ nói ‘Không sao cả, ở trong con người, khi có vận chuyển hắc khí vẫn có thể đổ lên theo những chu kì khi yêu ma tìm đến’. Nhưng làm sao Sư Phụ tôi lại có thể chịu thua dưới tay yêu ma được, Sư Phụ tôi quyền phép vô cùng.” Vị Tiên Cô lắc đầu: “Ngươi ra khỏi đây sẽ còn gặp được nhiều cơ duyên, lúc đấy hãy học thêm Tiên phép. Nhưng Sư Phụ ngươi đích thực đã là bị hại rồi.” Bạch Vân Cư Sĩ liền chảy một giọt nước mắt màu đỏ, giống như huyết lệ chảy ra. Vị Tiên Cô lại nói: “Ngươi không cần biết kẻ thù ngươi là ai, để ta nói ngươi hay, chính những kẻ muốn chia lìa non sông, thoán đoạt Thiên Mệnh, đã khiến Sư Phụ ngươi Mệnh chẳng lành. Nhưng người tu Tiên ngươi đừng tiếc điều đấy, cũng đừng tìm hiểu tại sao Sư Phụ mình đã mất. Điều duy nhất ngươi có thể kế thừa, đấy là chí nguyện thành thành của phái Hoằng Sơn, chính là bảo vệ non sông, khiến cho Đất được theo Trời, Trời được theo Đạo.”

Có một chuyện nhỏ, mọi người sẽ thắc mắc tại sao lúc đấy Nguyễn Bình Khiêm có thể tin vào lời vị Tiên Cô kia, chính là bởi vì lời vị Tiên Cô kia nhắc lại chính xác sứ mệnh của Tiên Môn, của Tiên Phái, của Hoằng Sơn Tiên Phái. Lúc đấy đối với một người như Nguyễn Bỉnh Khiêm, như Bạch Vân Cư Sĩ cũng đã biết rằng Sư Phụ mình gặp chuyện chẳng lành, chẳng qua điều này động đến tâm can, trái tim ông ta vô cùng đau đớn. Nhưng ông ta có thể bỏ qua đau đớn đấy, vì Sứ Mệnh mà đi, cho nên khi xuống kia gặp một thử nạn đầu tiên là yêu ma, ông ta có thể sẵn sàng vượt qua được, sức mạnh của ông ta là Trời Đất ban cho. Bởi vì ông ta đã đem sinh mệnh này cho Trời Đất, ông ta tất được Trời Đất độ dưỡng, sức mạnh của ông ta là tương đương như thế, yêu ma quỷ quái ở một vùng không có khả năng gì ngăn chặn được ông ta cả. Sau này dựa theo vân trời và vân đất, ông ta soạn ra bộ Thái Ất Thần Kinh, ông ta soạn ra những lời sấm truyền liên quan đến tương lai của non sông, tất cả đều là nhờ việc từ đầu ông ta đã giao sinh mạng mình cho Đất và Trời.

Bạch Vân Cư Sĩ liền vái một vái rồi đi xuống, ở trong trái tim gần như tan nát đổ vỡ vô cùng. Có lẽ có hai lần tan nát đổ vỡ nhất trong đời ông, một là khi mẹ bỏ đi, vì một chí nguyện chiếm lấy Thiên Đạo đã khiến cho chia lìa gia cảnh, đối với ông điều đấy đau xót khủng khiếp. Điều thứ hai là lúc Sư Phụ vì bảo vệ chí nguyện của Môn Phái, bị tà ma hãm hại mà bỏ mạng giữa đường. Ông cũng không bao giờ biết được Sư Phụ mình rốt cục vì sao mà bỏ mạng, ông chỉ biết tiếp tục đi con đường mà Sư Phụ đi. Đấy chính là lí do sau này ông ta dùng trăm phương ngàn kế ngăn cản Duy Hựu trở thành Đế Vương. Bởi vì đối với ông, đây là Đế Vương không hợp cách, Địa Đất phải chia đôi thì mới hợp nhất được dưới Trời, cái Lí là như vậy. Và đấy chính là lấy một dải Hoằng Sơn, “Hoằng Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”, lấy một dải Hoằng Sơn đấy mà chia đôi thiên hạ, bên này là Trịnh bên kia là Nguyễn, sau này sẽ có cơ hội hợp nhất lại sau. Ông ta vẫn cho rằng đấy chính là Đạo lí mà ông ta có Sứ Mệnh sinh ra để bảo vệ.

Lúc xuống núi, trên con đường đi, ông ta thấy một con rắn rất dài, có lẽ không phải là trăn mà nó chắc chắn là rắn, nó dài đến 3 mét, nằm chết ở dọc đường, thân xác bị chặt làm đôi. Bạch Vân Cư Sĩ nhìn thấy con rắn, bấm quẻ, khuôn mặt bỗng tái nhợt thốt lên: “Nguy rồi! Yêu ma phục ta ở đây!”. Vừa nói xong thì đã thấy xung quanh có ngàn vạn con rắn bò đến giống như trùng trùng tứ phía đều vây, không thể đằng vân giá vũ mà đi được, bởi vì không gian cảm giác áp lực chùng xuống. Ngay lúc đấy thấy một người nửa người nửa rắn từ dưới đất chui lên, ánh mắt sắc lạnh, trông ghê gớm vô cùng. Đuôi người này giống như con rắn trườn đến gần ông ta, rồi chỉ vào mặt ông ta nói: “Ngươi muốn chia sông rẽ núi chăng? Chúng ta đã nhất định chọn ra Tôn Chủ của mình, sau này nếu ngươi nói rằng muốn giúp chúng ta, chúng ta sẽ để cho ngươi sống! Nhược bằng ngươi muốn chống lại, ngươi nhất định phải chết!” Bạch Vân Cư Sĩ nhìn thẳng vào cô gái nửa người nửa rắn kia, đáp: “Ngươi chỉ là loài yêu ma, làm sao dám can thiệp vào chuyện Trời Đất? Chuyện ta đến để thực thi chính là điều được an bài của Tiên Phái. Từ đầu ta đã được Trời Đất định sẵn là có Sứ Mệnh này. Ngươi dám chống lại ta sao?” Nói xong ông ấy tiến về phía trước, vừa tiến về phía trước thì tự nhiên ở trong người ông phát ra một luồng tinh quang sáng lạn vô cùng, rồi tỏa phát ra giống như một ánh thái cực, ánh thái cực này mở rộng đến đâu thì một thái cực dưới chân ông ta tròn xoáy lại, giống như ngàn vạn thái cực từ một thái cực nhỏ đấy lan ra lan ra vô tận; nó giống như một ánh sáng tràn dưới chân ông ta ra, tràn đến đâu thì đám rắn lùi đến đấy. Rồi ánh sáng này bắt đầu tụ thành một điểm giống như một mũi tên, bay xuyên qua người vị nửa yêu nửa rắn kia, thế là một cái lỗ được khoan giống như một tia la-de khoan qua người nửa người nửa rắn, thế là vị yêu ma đấy gục xuống chết tức thì. Rồi ánh mắt ông ta sáng ngời nói: “Trời đã muốn ta làm việc, tất nhiên ta phải làm được!”.

Nói rồi ông ta bước qua, ngàn vạn con rắn từ các ngả tự động lùi lại, ông ta bước đến đâu thì chúng giống như bị dồn ép đến đấy, tất cả chúng bò lẫn lên nhau, có con cắn giết lẫn nhau, đều tránh lối cho ông ta đi. Đấy là Thiên Mệnh đã định, yêu ma quỉ quái muốn lợi dụng, muốn ngăn chặn cũng không thể ngăn chặn được. Cho nên nói là Đạo Trời có Chính Phản đồng xuất, sắp xếp điều này tất sắp xếp điều kia, giống như người ta đã có da thịt tất phải có móng, lông, tóc. Thế nên nói là có một thứ thừa, không có thứ gì thừa cả; chẳng qua an bài điều này chính là bởi vì điều này trông bề ngoài giống như tương phản điều kia, lại sẽ hỗ trợ cho điều kia, chỉ biết là ông ta sinh ra để giúp cho việc nhân gian ở trong xứ cõi thế phải tuân theo vận mệnh của Trời Đất mà tiến hành.

Nhưng nói vận mệnh của Đất là thế nào? Ông ta liệu có quan tâm đến được vì sao mà Đất như thế không, vì sao mà Trời như thế không? Chuyện của Bạch Vân Cư Sĩ không phải là vì sao mà Đất có vận chia đôi, vì sao mà Trời có vận thống nhất; chuyện của ông chỉ là Đất chia đôi thì ông ta buộc nhân gian phải chia đôi, nếu Trời đã thống nhất ông ta buộc Đế Vương phải thống nhất.

Nhưng nói về những người tu Tiên như thế thì thế nào bây giờ? Một người như Bạch Vân Cư Sĩ khi tu thoát thì thành gì? Chính là thành Thượng Đẳng Thần, chính là thành Tối Thượng Tiên của một xứ, một cảnh. Nhưng đấy là Tiên Phái ông ta từ đầu xuất hiện đã lấy điều đấy để tu luyện, tức là người ta hoàn thành Sứ Mệnh đấy, hoàn thành những điều đấy. Trong quá trình hoàn thành đấy còn bao nhiêu tâm phải tu bỏ, bao nhiêu trí huệ phải đạt được, bao nhiêu phép thuật phải triển khai, bao nhiêu yêu ma phải tiêu trừ, bao nhiêu uy đức phải thiết lập. Thiết lập đủ tất cả những điều này mới có thể thừa nhận là đã hoàn thành một điều ấy. Cho nên trong tất cả các Môn Phái, nhất là tu Chân, bao giờ cũng có một điều: Sứ Mệnh chính là để thực hiện được Mệnh, làm được Sứ Mệnh thì chính là Mệnh đã viên thành theo điều ấy. Đến một điểm nhất định khi đã kết thúc các Sứ Mệnh thì có thể nói là đã quay về, đã hoàn thành, đã tu cho rốt ráo một Môn rồi.

Nhưng nói đi phải nói lại, dù sao thì trong các Tiên Phái, kể cả những Tiên Phái mang tính tiểu Đạo thế gian, thì Môn Phái của Bạch Vân Cư Sĩ vẫn là một Môn Phái rất cao. Rất nhiều Đạo sĩ được sinh ra chỉ để phò tá một Đế Vương, nhưng điều mà Bạch Vân Cư Sĩ thực hiện là bảo vệ Trời Đất, đấy là một Sứ Mệnh vô cùng to lớn.  

Thái cực mà xuất hiện dưới chân ông ta và lan tỏa rất nhanh như thế là bởi vì ông ta sinh ra là để khiến cho ‘Đất thuận theo Trời’, cho nên thái cực của ông ta không xuất hiện ở trước mặt, không xuất hiện ở trên đầu, mà xuất hiện ở dưới chân, đại ý cho việc là Đất đã phù trợ cho ông ta, tất cả các Thần Đất đều phù trợ cho ông ta, năng lực của ông ta là do Địa Long mà có.

Mẫu thân của Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhân vật rất đặc biệt. Sau này mẹ của ông ấy, như dân gian đồn là còn cưới Mạc Đăng Dung, chuyện này không nhất định chính xác, có điều là mẹ của ông ta quả nhiên đã kết duyên với một người. Nhưng nguồn gốc của mẹ ông ta mới là thú vị. Cha của bà ta trước khi bước vào con đường tu luyện có vợ con đàng hoàng; thế là trong quá trình tu luyện thì cha của bà ta đối đầu với một trong những ác quỷ nhân gian thuộc loại hùng mạnh nhất, vì ác quỷ đấy mà không chỉ môn phái của ông ta bị tiêu diệt mà đến gia đình của ông ta cũng bị tận diệt. Ông ta cứ nghĩ đứa con gái của mình đã chết rồi, là bởi vì vốn mạng của đứa con gái này, vốn sinh thần của nó đã kết thúc rồi. Nhưng mạng nó lại được một luồng sức mạnh thổi dậy để nó tiếp tục sống, và bị băng phong ở trong một vùng băng địa nằm chìm sâu dưới mặt đất, cho đến ngày tháng nhất định thì vùng băng địa này mới trồi lên, đứa bé này mới tiếp tục sống, và nó lớn lên trưởng thành như thế, nó có mang một mối hận ở trong lòng. Lúc đấy trí nhớ nó đã bị suy giảm, con bé chỉ biết là nó lớn lên chính là để xây dựng lại nhân gian, và muốn xây dựng lại nhân gian buộc phải trở thành Đế Vương, nó có một ý niệm mơ hồ như thế. Đấy là con gái của Âm Tiên.

Duyên nghiệp trên đời rất khó diễn giải. Nếu có thể nói là vì Âm Tiên mà xảy ra nạn đấy, bởi vì khi Âm Tiên còn trẻ liên quan đến vì Âm Tiên mà nạn đấy xảy ra, vì Âm Tiên mà toàn gia tận diệt, toàn Môn Phái tận diệt, có thể nói như thế, nên Sứ Mệnh đặt lên vai ông ta, tất cả hi vọng của Tiên Môn ở trên vai ông ta, đấy là rất lớn lao, bản thân ông ta là một câu chuyện to lớn, đấy là ở nhân gian. Thế rồi, thật ra mọi chuyện vòng quanh, người khiến cho ông ta phải lao theo lỗi lầm của ông ta để trở về hiện tại chính là cháu ngoại của ông ta, người cháu ngoại này mang theo nỗi hận của toàn gia tận diệt.

Lúc đưa Âm Tiên vào duyên nghiệp trùng trùng, Bạch Vân Cư Sĩ không biết Âm Tiên là ông ngoại mình. Bởi vì toàn bộ sinh thần của bà mẹ Bạch Vân Cư Sĩ coi như đã bị tách khỏi nhân gian rồi, chính là Địa Long ban cho bà ta sức mạnh đấy, để khối băng hàn ở trong cực địa mà, nên người mà bà ta mang thai ra chính là con cháu của Địa Long, đến lúc mang Sứ Mệnh cũng là theo Đất mà duy hóa, tất cả đều có an bài chi li, không có gì là ngẫu nhiên. Âm Tiên tu khí Cực Âm và xét về Mệnh mà nói, chính là bản mệnh của ông ta có thể khiến cho Đất nứt làm đôi, có thể hiểu là như thế. Sức mạnh của ông ta, vật chất của ông ta, giống như Địa Long thì là cả một khối bên dưới, là một con Rồng lớn bên dưới, là một khối đất đá bên dưới, cứ tưởng tượng như thế, thì Âm Tiên đã tu thành khí Chí Âm ở bên trên này, cũng giống như đối ứng, bên dưới là Địa Long, trên là Âm Tiên, có thể coi như là thế. Cho nên người con gái của ông ta bản mệnh là Thiếu Âm, bị rơi xuống trong Địa Long và được nuôi dưỡng, sinh ra đứa con trai đấy chính là Dương ở trong Âm, rồi vận Dương ở trong Âm này quay trở lại đả kích Âm Tiên, khiến cho Âm Tiên lọt vào bên trong trường đấy, rồi lọt vào trong ma nạn, ma nạn đấy cũng thuộc về Âm nạn, cho nên ông ta cứ theo Âm nạn đấy mà trôi chảy. Tất cả đều là an bài trong một con đường của một vị Thần Tiên, rất khó nói là tại sao mà thế, không thể nói được trên dưới, không thể nói ai là con ai cháu ai, chỉ có thể nói là Duyên Nghiệp đã an bài như thế cả rồi. Đây không phải là chuyện của Thiên Đình nữa, không phải chuyện của Tam Giới nữa, cho nên ông ta nhìn chuyện Tam Giới này không biết được là tại sao, con mình đang ở đâu, bởi vì lúc đấy chuyện này đã vượt ra khỏi sự an bài của Tam Giới bình thường. Cho nên khi bà ta lớn lên, ý niệm tìm về vùng đất của Thủy Long là vô cùng mạnh mẽ, bởi vì bà ta gần với vận Âm, vì Đất với Nước là đi liền với nhau, sau Địa Long đương nhiên sẽ là Thủy Long, cho nên bà ta cứ theo hướng đấy mà đi. Câu chuyện rất phức tạp.


Duyên nghiệp trùng trùng, cho nên kể các ngoại truyện này để thấy là các Tiên Môn ở trong cùng một cửa Tiên Môn Tiên Đạo, bao nhiêu điều an bài trùng trùng trùng trùng đều đến một mốc, giờ ở chỗ đấy, vì Duy Hựu mà họ ở đấy, tất nhiên không phải vì Duy Hựu mà họ không ở đấy nữa, nhưng mọi chuyện đều có an bài chi li như thế, đường đường hướng hướng.


Thứ Năm, 13 tháng 7, 2017

Tốt hơn

Bảo tốt hơn một chút. Một chút ấy chết cũng không chịu tốt hơn.

Bắt người này làm bình phong. Lấy danh dự người khác làm khiên đỡ. Rốt cuộc là muốn nấp sau nhân gian mà làm bậy.

Bảo theo Thần. Nhưng lại tuân theo tư dục, tư tình.

Nên nói rằng: con người ấy mà, muốn tốt hơn một chút, khó biết bao nhiêu, thật ra không làm nổi.

Vẫn là ngã không đứng lên nổi. Là đứng không vững chân nổi.

Cơ hội để thật tốt 
cũng không còn nhiều đâu.

Chủ Nhật, 9 tháng 7, 2017

Phù Vân, Ngoại truyện (05)

Vùng Thanh Hóa là một xứ sở vô cùng đặc biệt, nơi đấy bao nhiêu truyền thuyết Tiên Thánh, bao nhiêu những chuyện kì lạ trong lịch sử đều có. Chúng ta đã biết quá nhiều về Thanh Hóa, tất nhiên, vẫn chưa đủ biết. Mọi người cho rằng Tiền Quán Thánh xuất phát từ một nơi nào đấy khác ngoài Thanh Hóa, đúng, bởi vì ông ấy gốc là người Trung Quốc, ông ấy thuộc dòng dõi tu Tiên Thuật, tu Tiên Đạo Phúc Kiến, thế là tuổi trẻ theo cha. Tất nhiên chuyện này trong tất cả những truyền thoại viết về Nội Đạo Tràng, viết về Tiền Quán Thánh đều không ghi được sự thật về ông ấy.

Tiền Quán Thánh là một người tu rất cao, nguyên ủy môn phái ở Phúc Kiến. Ông ấy sống bằng một thời gian cũng rất dài lâu. Đến khoảng năm 110 tuổi, ông dong thuyền theo biển, trên con đường ra biển ông nghĩ là đợi sóng, đợi gió, đợi cho cơn gió thổi ông ở trên mặt biển, thổi đến vùng đảo nào thì ông ấy sẽ sống ở vùng đảo đấy, tu luyện ở đấy, ông đã quá chán cõi con người rồi. Thế là Tiền Quán Thánh cứ đợi trôi đi, trôi đi, rồi những cơn gió cứ thổi, đẩy ông ấy đứng trên một thanh ván nhỏ, ông ấy cứ thế trôi đi. Thanh ván này do có Tiên lực đi vào nên nước không nhấn chìm được, gió không nhấn chìm được ông ấy, ông ấy cứ phơ phất như thế. Tất nhiên là bởi vì ông ấy cũng mang theo thân người, chưa đắc chính quả, chưa viên mãn, chưa thoát, cho nên cơn gió hay mọi thứ xung quanh ông vẫn khiến ông tổn thương. Bởi vì ông ấy duy trì lực như vậy, đi như thế, tất cả những sức ép, tất cả những tai nạn xảy ra với tấm ván thì cũng xảy ra với ông ấy - tất nhiên là đối với tầng của ông ấy thì những tai nạn này không đáng kể - cho nên ông ấy trông xước xát, trông khổ sở.

Qua một năm dài, ông ấy cứ trôi trên biển như thế cho đến lúc gặp một hòn đảo. Hòn đảo này trông rất kì lạ, nó chỉ là một vùng đảo nhỏ, giống như một ngọn núi nhỏ mọc trên biển. Thế là ông dừng ở đấy, bãi cát trông màu sắc rất kì lạ, thất sắc. Lên được hòn đảo đấy ông nghĩ: “Nơi này có dị tướng, có kì hình, thể nào ta cũng tìm được điều đặc biệt.” Bởi vì trong Tiên Đạo có một chuyện, đấy là khi có bất cứ một dấu tích kì lạ gì, thường ở nơi đấy có kì hoa dị thảo, có kì hoa dị thảo thì có thể chế được Tiên đan.

Thực ra chế Tiên đan không dễ. Muốn chế Tiên đan là phải được an bài, bởi vì để tìm được kì hoa dị thảo thì vùng đấy thường không có con người xâm nhiễm, thiên nhiên được bảo trì qua một thời gian dằng dặc. Tại sao thiên nhiên được bảo trì qua thời gian dài dằng dặc lại xuất hiện kì hoa dị thảo? Không phải bởi vì vùng đấy đặc biệt thì có hoa đặc biệt, nói thế không đầy đủ. Phải nói đầy đủ là thế này, khi nhân gian bắt đầu trở nên u tối hơn thì những dòng chảy thanh sạch dồn về những nơi mà con người không đến, cho nên khi những luồng linh khí dồn lại những nơi con người không đến hoặc con người không chạm tới được, những nơi linh thiêng hơn một chút liền ngày càng trở nên linh thiêng hơn. Khi những khí tinh hoa đã tích đủ thì đấy chính là lúc bắt đầu kì hoa dị thảo xuất sinh. Tất nhiên, có người thì thấy là cả nghìn năm rồi, nhưng nghìn năm cũng không nở, nghìn năm cũng chỉ là một cái mầm, nhưng khi đã tích đủ điều kiện, thì khoảnh khắc đã ra rồi. Cho nên nói ông ấy đến vùng đấy có kì hoa dị thảo, chính là bởi vì nơi đấy lúc đấy nhân gian đã tệ đi rất nhiều rồi, rất nhiều biến nạn trôi qua rồi.

Đấy là nơi rất đặc biệt. Ông nhìn thấy cát có bảy màu, trên đảo cây cối đều to lớn bất thường trong khi là một hòn đảo nhỏ. Thế là ông ấy mới ngước nhìn lên, ông cảm giác là hòn đảo này vốn không nhỏ, cát này vốn không bất thường, chính là bởi vì có một điều gì đấy dị thường tồn tại ở trong quả núi đấy. Ông liền tiến vào, trên đường đi ông thấy mỗi thân cây đều có vô vàn các vết khắc, những hình khắc rất kì lạ. Khi tiến thêm một bước, ông ấy đi đến một điểm bắt đầu giống như một con đường, và càng đi càng giống một con đường. Ông đi đến một nơi có hai cái cây, cây bên trái có khắc một hình con rồng quấn quanh cây, cây bên phải khắc hình một bông sen lửa to và rực rỡ. Cảnh đấy khiến ông rùng mình, ông cảm giác một cái gì đấy rất đặc biệt đang xuất sinh. Ông liền tiến thêm một bước nữa, tiến thêm bước nữa thì thấy có một hào ảnh mênh mông từ bên dưới đáy một ngọn giếng ở ngay phía trước, nó tỏa phát lên trên trời. Hào quang này vô cùng rực rỡ, giống như cả bầu trời bị thu lại trong hào quang đấy, rất khó diễn tả.

Ông bước một bước nữa thì liền thấy một kết giới lung linh, lúc này ông mới giật mình nghĩ rằng: “À, hóa ra hòn đảo này là một trận đồ. Ta chưa từng nghe đến trận đồ thế này. Trận đồ gì có thể khiến cho cát đổi màu, khiến cho cây mang hình thù kì lạ, thế mà đi nhập trận thì dễ, không biết xuất trận có dễ không?” Bởi vì ông đi một lúc đã đến tâm trận rồi, trong khi không động một chút tâm cơ nào. Ông lại nghĩ là: “Trận đã biến đổi kì lạ như thế tất là do ta được an bài để đến đây. Ta được an bài đến đây, đến ngay chỗ này cho nên con đường ta cứ đi thì đến chỗ. Nếu như sai lệch một chút thì có thể ta cũng đã chết ở trong khu rừng đấy rồi.” Nghĩ đến đấy bất giác toát mồ hôi, ông liền quay đầu nhìn lại, thấy một biển thăm thẳm, mênh mông, tăm tối. Ông dùng Tiên lực để xuyên phá khoảng mênh mông đấy, tìm lại con đường cũ, thì vừa phát một niệm Tiên lực cả người giống như liền kiệt quệ, không còn sức nữa. Ông liền nghĩ: “Ta đã vào đến tâm trận, có muốn trốn chạy cũng không thể trốn chạy được nữa, chỉ để xem trước mặt có chuyện gì đây.”

Ông ta liền tiến đến bên giếng. Bên giếng có một ánh sáng lung linh lung linh phát ra, lúc đấy ông ấy mới nghe thấy tiếng “Chậc” một chút, ông vừa nghe thấy giật mình: “Lại còn có người ở đây!” Ông ngửa lên, thấy ở trên cành cao vắt vẻo một người trông rất to lớn, râu ria xồm xoàm, trên đầu có đội một cái vòng có hình ba đầu lâu nho nhỏ. Khuôn mặt người này rất tươi cười hồng hào, liền nhảy từ trên cành cây xuống. Lúc đấy Tiền Quán Thánh nhìn người này nhảy xuống thì thân thể rơi như một chiếc lá, nó cứ nhè nhẹ nhè nhẹ, trông thì rất chậm, thực ra rất nhanh, chớp mắt đã đến trước mặt Tiền Quán Thánh rồi.

Tiền Quán Thánh liền hỏi là: “Ngài là ai?” Vị kia nhìn Tiền Quán Thánh mỉm cười hỏi: “Thế ông là ai?” Tiền Quán Thánh đáp: “Tôi là Tiền Quán Thánh, tu Đạo đã trăm năm, giờ đang tìm một nơi để có thể viên tu trong một thời gian dài. Tôi không biết là có quấy quả chỗ của cao nhân, xin cao nhân lượng thứ.” Thế là vị đấy cười khanh khách, xong rồi vỗ vai Tiền Quán Thánh nói là: “Ngươi cả đời giữ gìn lễ nghĩa. Nhưng lễ nghĩa không phải là mấu chốt của Đạo, ngươi cứ tu theo lễ nghĩa cũng không thể viên thành được.” Tiền Quán Thánh đáp: “Tự tính thế nào thì cứ để như vậy, tôi cũng không thấy cần phải thay đổi.” Thế là người kia lại càng cười lớn hơn nữa: “Ngươi cố sức giữ cái tự tính đấy thì đâu còn là tự tính nữa!” Rồi Tiền Quán Thánh lại mỉm cười hỏi: “Vậy thì buông nó ra mới là đúng chăng?” “Buông ra cũng không đúng. Nhưng ngươi còn nghĩ là giữ hay buông thì đều không đúng cả.” Tiền Quán Thánh bật thốt: “Làm sao người có lí trí lại không nghĩ đến chuyện giữ hay buông một điều gì đấy được, tôi nhất định phải nghĩ.” Thế là người đấy lại càng cười to hơn: “Vậy thì ta nói cho ngươi hay, ngươi nhất định không tu viên thành được!” Tiền Quán Thánh tự dấy lên trong lòng: “Ở trong lời người này có huyền cơ”, cũng có một chút động tâm suy nghĩ.

Tất nhiên lúc này đối với Tiền Quán Thánh, điều quan trọng là đang lọt vào trận đồ, biết là bị người uy hiếp, cho nên ông lại cúi đầu thưa: “Đã xúc phạm đến cao nhân, xin cao nhân mở lối cho tôi quay trở lại.” Người kia gật gù nói: “Tốt lắm! Ngươi mang lễ nghĩa đầy đủ, thế nhưng lại không sa vào đố kị, nên cũng không sa vào tranh đấu, lại biết lo bảo vệ thân mình, trước hết đấy là điều rất tốt. Ta nghĩ sau này ngươi sẽ có duyên để tu đắc, có điều ngươi muốn tu đắc thì ngươi phải từ bỏ nhiều điều ở ngươi hơn nữa.” Tiền Quán Thánh đáp: “Liệu tôi có thể từ bỏ gì đây?” Vị kia liền nói: “Ngươi vừa gặp ta đã giới thiệu ngươi là người tu Tiên Đạo, không phải vì biết ta là người tu Tiên mà vốn ngươi luôn tự hào ngươi là người tu Tiên Đạo. Ngươi thấy ngươi thanh sạch hơn chúng sinh, mà cái thanh sạch đấy không phải tự tính của ngươi, đấy là bởi vì ngươi chưa thanh sạch nổi cho nên ngươi còn cố biện luận ra điều đấy. Cho nên ta nói, ngươi có dám trở lại cuộc đời một lần, sống giữa cuộc đời một lần, phải đảm nhiệm những chuyện vô cùng khó khăn ở một Môn Phái không? Nếu ngươi làm được thì tất ngươi có thể tu được.” Tiền Quán Thánh mỉm cười nói: “Nhà nào có Đạo của nhà nấy, phép nào có luật của phép đấy. Thực ra con đường của tôi, tôi rất biết phải đi về đâu. Xin cảm phiền Ngài mở lối cho tôi ra một lần nữa, xúc phạm đến nơi thanh tư quả thật là tôi có lỗi.”

Vị to béo kia lại mỉm cười nhìn, chạy xung quanh Tiền Quán Thánh. Lúc đấy Tiền Quán Thánh mới thấy người này giống như một cơn lốc, vừa chạy đi chạy lại đã cảm giác thân thể mình biến đổi, và càng cảm giác thân thể nhợt nhạt, rồi bắt đầu từ trên mỗi lỗ chân lông của Tiền Quán Thánh phát ra một ánh sáng màu xanh nho nhỏ. Tiền Quán Thánh cảm giác mình bỗng nhiên nhẹ nâng lên, rồi đùng một cái đã cảm thấy ở trên đầu có tiếng nổ bùm, rồi bắt đầu từ trên một nguồn năng lượng tỏa phát khắp thân thể. Tiền Quán Thánh hạ thân xuống đã thấy vị kia mỉm cười nói là: “Ngươi thấy sao?” Tiền Quán Thánh liền quì xuống, dập đầu nói: “Phần đại đỉnh của tôi mãi không khai thông được, đã qua bao nhiêu thời kiếp. Tôi cứ tưởng nếu trong mười năm nữa không khai thông được, thì thân này cũng bỏ xuống trong khi chưa viên thành, nay nhờ cao nhân đả thông hộ, không biết lấy gì đền ơn.” Rồi vị kia gật gù nói: “Ngươi ít nhất còn biết Đạo lí. Ngươi không cần đền ơn ta đâu, chỉ cần đem mười năm của ngươi giúp ta một chuyện.” Tiền Quán Thánh ngạc nhiên hỏi: “Có thể giúp Ngài chuyện gì xin Ngài cứ nói. Thần thông như Ngài tại sao còn phải nhờ tôi?” Lúc này Tiền Quán Thánh đã gọi là “Ngài” rồi, vì trong lòng khâm phục hết sức.

Bởi trong tu luyện, ai cũng đều biết là một người có thể giúp người kia thì nhất định tầng phải cao hơn. Hơn nữa Tiền Quán Thánh bị bế tắc như thế, vốn có Sư Môn, vậy mà suốt một thời gian dài không khai mở nổi, có gặp bao nhiêu cao nhân cũng không ai khai mở nổi, không ai giúp nổi, không ai chỉ ra nổi. Hôm nay vị này trong khoảnh khắc đến đã khai mở nổi thì đấy đúng là điều phi thường. Nhưng tại sao khai mở nổi lại quan trọng đến thế? Chuyện không phải chỉ là một mạch huyệt, đấy là bởi vì trong một môn tu, bao nhiêu sức ép để khai mở những kinh mạch khác nhất định sẽ làm một kinh mạch bị bế lại. Thế mà đối với Tiền Quán Thánh, chính là toàn bộ công của Tiền Quán Thánh đã tạo nên kinh mạch bị bế lại đấy, chứ không phải chỉ là ngày một ngày hai, cho nên không ai giải khai nổi, là bởi vì không ai thông thạo Môn Phái như chính Tiền Quán Thánh thông thạo Môn Phái của mình, cũng không ai có khả năng cao hơn Môn Phái của mình để mà khai mở giúp mình như Tiền Quán Thánh đã gặp trong suốt cả trăm năm tu Đạo. Hôm nay một vị gặp ở trên đảo hoang, không nói một lời, không chạm tay vào, chỉ đi lướt qua một vòng đã khai mở được, đối với Tiền Quán Thánh sự việc này kì dị phi thường.

Lúc này vị kia mới nâng Tiền Quán Thánh lên nói: “Không cần đa lễ. Ta vốn không đa lễ, ngươi cũng không cần đa lễ. Ngươi đã nghe nói đến Bạch Môn chưa?” Thế là Tiền Quán Thánh nói là: “Tôi đã nghe nói đến Môn Phái đấy, dường như đã thất truyền ở trong Cửu Chân huyện.” Cửu Chân chính là chỉ Thanh Hóa. Vị kia liền nói tiếp là: “Ta muốn giao cho ngươi một Sứ Mệnh. Đến lúc này, khi ta đang nói chuyện với ngươi, thì chỉ một thời gian ngắn nữa thôi Bạch Môn ở Cửu Chân huyện sẽ phát sinh đại biến. Lúc đấy ngươi trở về cáng đáng lấy một nhánh trong Tiên Môn, ta chỉ muốn ngươi truyền phép tu cho ba đệ tử lại Môn Phái này.” Rồi Tiền Quán Thánh liền mở mắt nhìn vị kia nói: “Có phải Ngài ở trong Bạch Môn không?” Vị kia chỉ mỉm cười nói: “Ngươi có nhận lời giúp ta không vậy?” Tiền Quán Thánh nói: “Ân nhân đã cứu mạng này, cho cái mạng này có thể tiếp tục tu thành, mạng này là lớn nhất, đương nhiên sẽ đền cái ơn lớn nhất đấy.”

Rồi vị kia lắc đầu: “Ngươi không cần phải đa lễ, không cần phải đa lễ”, nói rồi chỉ xuống giếng nói là: “Ngươi có thấy gì ở bên dưới không?” Thế là Tiền Quán Thánh liền tập trung Tiên lực mới thấy dần dần miệng giếng mở ra, giống như lọt vào một không gian mênh mông. Trong không gian đấy Tiền Quán Thánh thấy ba đứa trẻ ngồi cùng nhau. Đứa trẻ thứ nhất là nữ, gương mặt rất nghiêm lạnh, trông giống như ẩn khuất một con rồng ở bên trong. Đứa trẻ thứ hai cũng là nữ, trông nhỏ hơn một chút, nhỏ nhất ở trong ba đứa, trông thân thể giống như ẩn khuất một bông hoa sen lửa. Đứa trẻ thứ ba trông giống như có cả rồng cả sen lửa, hoạt bát chạy giữa hai đứa, chạy giống như thành một vòng tròn như một thái cực, càng chạy càng khiến cho cả hai người kia yên tĩnh và mắt nhắm nghiền. Đứa trẻ này vô cùng năng động, càng chạy càng cảm giác nhanh vô cùng, đến lúc vừa giật mình nhận ra thái cực mà đứa trẻ kia đang chạy tạo ra một nguồn năng lượng vô tận đẩy Tiền Quán Thánh sang một bên. Tiền Quán Thánh giật mình mở mắt, đã cảm thấy đứng ngay ở trên thành giếng và giống như đang ở trong không gian kia, thân thể vẫn còn một luồng gió mát ở trên mặt. Tiền Quán Thánh liền quay sang nói với vị to béo kia: “Thật là một sự việc phi thường! Ba đứa trẻ này là ai vậy? Sao lại có thể mang năng lực Tiên thiên lớn đến như vậy?” Vị kia mỉm cười đáp: “Ngươi có đồng ý giúp ta không vậy?” Tiền Quán Thánh liền dập đầu nói: “Sứ Mệnh to lớn, đây không phải là chuyện chỉ riêng của Tiên Môn, mà còn là chuyện của Chính Đạo. Xin Ngài để tôi giúp.”

Lại nói lúc đấy Tiền Quán Thánh trông hết sức nghiêm túc phi thường, ông liền ngồi xuống, quì hai gối trước mặt vị kia, chắp tay ở trước ngực, hết sức thành khẩn. Tiền Quán Thánh không thể tự trông gương mặt mình, không biết là gương mặt mình bỗng nhiên trẻ lại giống như hồi hai mươi, ánh mắt long lanh, da trắng như mây trời, mái tóc xanh đậm, ánh mắt rực rỡ. Lúc đấy vị to béo kia mỉm cười nói: “Ngươi có lòng Ngộ Đạo, sẵn sàng đảm nhận Sứ Mệnh, sẵn sàng đau khổ, sẵn sàng như vậy là tốt, cho nên ta nói ngươi sẽ hết sức mệt nhọc. Khi ngươi trở lại giúp Bạch Môn, ngươi chỉ nhớ mình là người của Bạch Môn, không cần nhớ mình là ai khác. Bây giờ ta nói với ngươi, ngươi hãy quay ngược lại, đi qua nhiều sóng gió, khi ngươi về đến Cửu Chân huyện, thì ngươi sẽ thấy có một căn nhà nọ. Ngươi vào căn nhà đấy, tùy duyên mà cứu người, cứu được ai hay người đấy, không cứu được thì đừng cứu, rồi theo người đấy mà đi. Đi được đâu thì đi đấy, nếu không đến được nơi thì cũng đừng có tiếc, nếu đến được nơi thì có việc gì cần làm nhất định là phải làm, cứ tùy duyên mà làm, đều có sắp đặt.” Nói xong vị to béo này phất tay một chút, toàn bộ không gian hòn đảo liền giống như biến mất.

Tiền Quán Thánh bừng mở mắt, vừa ngẩng nhìn lên đã thấy chỉ một vùng cát mênh mông, rồi bỗng nhiên thấy thân mình bật ngửa ra đằng sau, rơi vào trên một tấm ván, chính là tấm ván ông đã đi đến đây, và tấm ván này bắt đầu trôi. Tiền Quán Thánh cảm giác là con thuyền này trải qua mưa nắng, giống như con thuyền đi chỉ một vài ngày mà như đã đến cả năm trời, cứ theo tấm ván đấy mà trôi, thân thể cảm giác hết sức rã rời mệt mỏi. Thế là đến một ngày, đúng lúc đấy nghe thấy tiếng người: “Có người! Có người!”, thấy một con thuyền đi qua vớt mình lên. Thế là tất cả mọi người đều lo lắng: “Ông lão này đã chết chưa?” Lúc đấy khuôn mặt của Tiền Quán Thánh đã trở lại già như trước. Tất cả mọi người nói là: “Chưa chết! Chưa chết!” Tiền Quán Thánh nghĩ: “Đối với người thường không lí giải được chuyện ta ở trên sông mà còn sống.” Thế là Tiền Quán Thánh đặt tay lên trên ngực, khẽ rên một chút nói là: “Trời ơi tôi khổ quá!” Mọi người hỏi: “Sao vậy?” Tiền Quán Thánh liền nói: “Thuyền tôi bị sóng đánh vỡ, may mà có mọi người cứu.” Thế là người trên thuyền liền bảo: “Mấy hôm nay không có sóng dữ, không có bão lớn, sao thuyền ông tan được?” Tiền Quán Thánh liền đấm ngực nói là: “Trời! Con thuyền rách nát, đâm vào hòn đá cũng vỡ nát huống chi là biển cả!” Thế là mọi người đều cười ồ lên: “Thật ra người sống là tốt rồi!”, tâm tình mọi người đều thoải mái như thế.

Lúc đấy tại sao Tiền Quán Thánh có thể nói dối? Sở dĩ Tiền Quán Thánh có thể nói dối bởi vì đấy không phải là nói dối, bởi vì đấy chính là nói để cho người ta không ngộ nhận về mình, cho nên không phải là nói dối. Lời Tiền Quán Thánh là hợp với Đạo, cho nên không phải nói dối. Có những lời nói dối để lấy lợi ích về phía mình, chứ không phải để vì con người, cho nên không phải để vì Đạo, không phải để vì con người không hiểu nhầm Đạo, cho nên lời nói đấy đích thực là nói dối. Lời của Tiền Quán Thánh không phải là lời nói dối, ý là như vậy.

Thế là Tiền Quán Thánh được cứu lên rồi, xong ông bắt đầu ngồi trên thuyền suy nghĩ về tất cả những điều vị to béo kia nói. Ông nhận định là đi về Cửu Chân huyện, khi cập bờ, ông liền nhẩm tính trong đầu: “Ta từ biển mà đi vào bờ, đấy là từ chỗ giáp ranh của Âm Dương. Chỗ giáp ranh của Âm Dương mà gặp một căn nhà, đấy là gặp nhân khí, như vậy ta sẽ gặp tâm mắt của thái cực, vậy đó chắc chắn phải là một nơi ngay giữa núi mà có hồ”, xong rồi ông liền gật gù nói: “Ta hiểu, ta hiểu.” Thế là theo con thuyền đấy đi, đi một hồi quả nhiên đến một vùng, đấy là một vùng chân núi ăn ra liền sát biển. Ông nhìn xung quanh thấy mấy người đi trên thuyền nói là: “Thần Khẩu! Chúng ta về đến Thần Khẩu rồi!” Ông liền nhìn trên ngọn núi, đang đi ông thấy một chữ “Thần” () khắc trên vách núi trông hết sức oai dũng vô cùng. Ông nhìn chữ “Thần” đấy, khẳng khái xúc động trong lòng: “Người có thể có chỉ lực đến mức đấy, quả là kinh khiếp!” Tức là người có thể dùng lực của ngón tay khắc được chữ Thần đấy ở trên vách đá, đẹp đẽ đến như vậy, quả thật là có một công phu khó thấy. Ông ta nghĩ như vậy liền nghĩ: “Nơi này nhất định xuất hiện Tiên Thánh!” Rồi ông ta đi một đoạn, đi một đoạn, càng đi sâu vào, cửa biển Thần Phù mở rộng ra mênh mông, không biết đến đâu mới là đích, thế là cứ theo đấy đi. Ông ta nghĩ là: “Đã nói là chỗ giáp ranh giữa biển với đất liền, ta đi như thế này dường như là có chỗ sai.” Ông ta liền ngó những ngọn núi, ông ta nhìn thấy những ngọn núi chạy theo đường vòng cung, đây chính là hình cái bụng rồng. Ông ta liền ước lượng một đoạn ở bụng rồng, xong đặt chân xuống trên một cái thanh tre nhỏ rồi phất tay một chút, tất cả đoàn thuyền đang chở ông ấy tự nhiên lao vút về phía trước. Mọi người đều thấy hết sức kinh hãi, không để ý rằng người già vừa ngồi trên thuyền đã không còn ở trên thuyền nữa.

Ông ta bắt đầu ngồi xuống trên cái thanh tre nhỏ của mình, cứ thế ngồi kết ấn, lắng nghe sóng gió, tất cả mọi chuyện, tất cả mọi chuyện đang lưu chuyển, ông cảm nhận thái cực. Bỗng nhiên ông ta cảm giác là toàn bộ dòng khí đang chạy có một tụ huyệt ở đâu đấy, ông ta ngửa nhìn lên trời thấy một cái cột, lúc đấy ông ta vừa mở mắt ra, thấy ánh sáng mặt trời chiếu xuống, giống như có một cột khói bay lên, trông như một cột hơi nước bay lên, giống như là Thủy Long cuốn vào Mặt Trời mà đi lên. Ông ta nghĩ: “Đây chính là điềm mà ta cần.” Bởi vì ông nhớ lại ba đứa trẻ vốn là có điềm Rồng, điềm Mặt Trời, và thứ ba là điềm ở giữa Rồng với Mặt Trời, nên ông cứ theo hướng đấy mà đi, quả nhiên đến một nơi nhỏ. Đấy là một vùng núi được bao quanh, có một cái hồ vô cùng rộng lớn ở giữa. Ông ta tiến vào khu vực hồ đấy, cảm giác không gian mênh mông, rồi ông ta nhìn thấy trước mắt mở ra một chữ rất lớn: “Bạch Á Tự”. Thế là đến đây ông ta vừa nhìn thấy nghĩ: “Ủa? Vị kia nói là ta đến một chỗ nhà dân, sao lại đến được một ngôi chùa thế này?” Ngôi chùa lúc này trông hết sức hoang quạnh, cảm giác có một mùi giống như hương khói từ trong bay ra, thế nhưng con đường trông hết sức cô quạnh, tử khí tràn lan. Ông ta lắc đầu nghĩ: “Ma nạn luôn luôn làm dẫu có là Tiên Môn Chính Phái nhiều khi cũng không thoát được, cho nên người tu không trốn vào rừng núi thì không thể tu được ở nơi nào khác.”

Ông ta vừa nghĩ đến thế bỗng thấy từ trong một cánh cửa giữa không gian mở rộng ra, rồi một Vị mặc đạo bào trắng, ánh mắt sắc lạnh vô cùng, xuất hiện giữa không gian đấy nhìn thẳng xuống, chiếu đôi mắt xuống Tiền Quán Thánh. Tiền Quán Thánh giật mình nghĩ: “Ở giữa không trung có thể mở ra không gian thế này, vật chất kia không phải là Tiên giới thì đâu nữa? Không ngờ Tiên giới lại đặt một đối ứng ở ngay Bạch Á Tự, ta thật không thể ngờ được!” Thế là cánh cửa mở ra, Vị mặc áo đạo bào trắng, khuôn mặt sắc lạnh nhìn xuống nói là: “Ngươi đi về hướng bắc 50 dặm sẽ thấy ở nơi đấy một căn nhà. Ngươi cứ tìm ở trong đấy, thấy một người con gái nhỏ, trên người con gái đấy có khắc hình một bông sen trắng, ngươi cứ theo bông sen trắng đấy mà cứu người giúp ta.” Tiền Quán Thánh liền cúi đầu nói là: “Thần Tiên đã chỉ lối, tôi tất không phụ lòng”, liền cứ theo hướng bắc mà đi, đi được 50 dặm quả nhiên gặp một căn nhà.

Trong căn nhà đấy, khi Tiền Quán Thánh vừa bước vào thì thấy người mẹ đang cầm một cái cối đá định đập lên đầu đứa con, chính là đứa bé gái, trông nó còn hết sức nhỏ, nhưng Tiền Quán Thánh vẫn nhận ra khí chất của nó, chính là con bé có ẩn tàng rồng trắng bên trong. Tiền Quán Thánh liền hét lên một tiếng: “A!” rồi lao tới. Thế là cái cối đá đấy vừa đang giáng xuống, bởi vì Tiền Quán Thánh dùng tình mà lao tới để cứu người, chứ không phải dùng Pháp lực, không phải dùng Đạo lí, không phải dùng nhận thức nào khác, mà là dùng tình để cứu đứa bé gái đấy, cho nên trong khoảnh khắc đấy, toàn bộ Tiên lực không thể bảo vệ Tiền Quán Thánh được nữa, cái cối đá giáng thẳng xuống tay Tiền Quán Thánh, phần khuỷu tay gẫy gập ra đằng sau, có thể xác định là từ nay phần tay đấy rất khó cử động, giống như đã mang một vết thương rồi.

Người mẹ kia nước mắt chảy tràn nói: “Ông không để ta giết nó đi thì còn để làm gì?” Tiền Quán Thánh nói là: “Sao cô lại nỡ giết đứa trẻ, có phải là con cô không vậy?” Rồi người kia ngồi bệt xuống khóc lóc nói: “Con tôi hay không phải con tôi thì nói gì? Nó vừa sinh ra thì liền mang họa diệt gia, cha nó chết, anh nó chết, tất cả đều chết hết rồi, chỉ còn mỗi tôi với nó thôi. Tôi không giết nó rồi tự tử đi còn sống làm gì nữa? Giờ tôi sống làm sao nổi nữa?” Người này càng khóc càng to tiếng. Xong Tiền Quán Thánh liền thở dài nghĩ: “Quả nhiên là mệnh lớn, vừa sinh ra đã khiến cho tất cả tục khí xung quanh bị triệt tiêu”, xong rồi liền quay ra nhìn người mẹ, trông người mẹ này hết sức đau khổ, thảm thiết. Tiền Quán Thánh lại có một ý niệm khác ở trong đầu, liền tiến đến người mẹ: “Ta có thể nhận nuôi đứa trẻ này được không?” Người mẹ kia ngửa lên nói: “Ông nhận nuôi thì có ích gì? Giờ cha nó chết, anh nó chết, để nó chết luôn cùng tôi cho xong. Tôi làm sao lại đem con cho người khác nuôi được?” Thế là Tiền Quán Thánh mỉm cười nói: “Chồng ngươi không chết, con ngươi cũng không chết.” Nói xong liền móc ở trong túi ra một viên đan màu xanh, ánh tỏa ra màu xanh ngọc bích, nó sáng lấp lánh lấp lánh, rồi bảo người kia là: “Họ chỉ bị chôn xuống dưới đầm thôi, ngươi ra cái vùng đầm đấy, thả viên đơn này xuống vùng đầm đấy thì con quái vật ở đấy sẽ nhả chồng và con ngươi ra. Họ vẫn chưa chết đâu, vẫn còn kịp cứu.”

Nói xong liền đưa cho người đàn bà vẫn đang còn ngơ ngác, ông ta xách đứa bé chạy mất, liền vạch ở trên vai nó quả nhiên có hình một bông sen trắng, mà bên trong thân thể cũng giống như ẩn chứa một Long cốt kì lạ. Ông ta cứu đứa bé, đứa bé không khóc không cười, chỉ ngước mắt nhìn ông ta, khuôn mặt, ánh mắt từ sâu thẳm bên trong phát ra một ánh tinh quang kì lạ. Xong đứa bé mỉm cười nói là: “Thượng Tiên dắt con đi đâu vậy?” Thế là ông ta quay ra nhìn vào mắt đứa bé hỏi: “Sao ngươi biết ta là Thượng Tiên mà gọi là Thượng Tiên?” Đứa bé mỉm cười nói là: “Người đến đón con nhất định là Thượng Tiên”, rồi lại quay ra bảo Tiền Quán Thánh: “Có một vị Thần đã bảo con rồi, khi ông đến đây cứu con thì tốt nhất ông nên chạy về xóm dưới, ở bên dưới xóm dưới lại có người đang chờ để ông cứu nữa.”

Thế là Tiền Quán Thánh liền chạy một mạch theo hướng con bé chỉ, chạy mãi không thấy đường đâu liền hỏi con bé là: “Ngươi chỉ có đúng không vậy?” Con bé nói là: “Làm sao mà con dám chỉ sai, ông cứ chạy tiếp đi, chạy xuống dưới kia tất có người cần ông cứu.” Thế là lúc Tiền Quán Thánh đang chạy xuống phía dưới thì gặp một cái làng nhỏ thật, trong làng đang cháy rừng rực, giặc cướp vừa giết cả làng, chúng nó vừa chạy đi vừa cười khanh khách. Đứa bé liền nhìn Tiền Quán Thánh nói: “Con thấy ông có lòng nhân, nhưng ông đừng động tâm, người cần chết thì chết rồi, thế nên người cần cứu mới là quan trọng. Ông nhìn ở trong kia xem, con thấy dường như có người cần ông cứu.” Tiền Quán Thánh nghe thế liền để đứa bé lên trên một hòn đá, nói là: “Con chờ ta ở đây vậy.” Lúc đấy Tiền Quán Thánh cảm giác giữa mình và đứa bé có một sự gắn kết rất khó diễn tả.
Tiền Quán Thánh liền chạy xuyên qua đám lửa, ông ta đến đâu thì đám lửa dạt ra hai bên đến đấy, cho đến lúc ông ta nhìn thấy cả khu làng giống như bị cháy rừng rực, giống như đất cũng đang bốc cháy được. Hiện tượng đấy vô cùng kì dị, ông không làm sao lí giải được. Nguyên làng đấy là đứng trên một vùng có một mỏ dầu nhỏ, cho nên vùng đấy đất vốn dễ cháy, nên khi bọn cướp đến đây, châm một mồi lửa, vùng đấy cứ cháy rừng rực lên, giống như là một miệng núi lửa vậy. Rồi ông thấy hai đứa bé kia, một đứa bé gái còn rất nhỏ ôm một đứa bé trai cũng rất nhỏ, hai đứa cùng khóc. Nước mắt nó chảy đến đâu thì lửa lan ra đến đấy, thậm chí ở xung quanh đấy còn tỏa ra một luồng hàn quang lạnh lẽo khiến cho lửa không vào được. Thế là Tiền Quán Thánh liền chạy đến, quả nhiên thấy một đứa thì có một phần nửa xanh nửa đỏ, còn một đứa thì có phần hoa lửa bên trong, trông hết sức hoa lệ. Ông liền cầm xách hai đứa bé chạy đi, khi vừa chạm vào hai đứa bé, cảm giác cả thân người được truyền một nguồn năng lượng kì lạ, cứ thế bước chân ông giống như đang bay ở trên mặt đất, chỉ trong khoảnh khắc đã ra khỏi vùng đấy. Vừa ra khỏi vùng đấy, quay đầu nhìn lại thì ngôi làng đã biến mất.

Ông vừa đặt ba đứa bé xuống, hai đứa thì vẫn cứ khóc, còn đứa bé gái lớn thì trông lạnh lùng khôn tả, lại nhìn hai đứa bé kia nói là: “Ta là chị các em.” Thế là đứa bé trai liền đứng lên, khuôn mặt nó rất rạng rỡ hạnh phúc, đứng lên nói là: “Đúng! Đúng! Chị là chị em!” Còn đứa bé kia cũng đứng lên xong kéo tay đứa bé trai bảo là: “Không! Anh là anh em mới đúng!” Thế là tất cả mọi người đều đứng nhìn. Rồi Tiền Quán Thánh thấy là: “Ba đứa bé này không có cùng xuất thân, không cùng một gia đình, vốn là bị đưa từ nơi khác đến cùng một chỗ này” Nhưng ông không làm sao lí giải được cảm giác kì lạ đấy. Ông liền dắt ba đứa bé nói là: “Ta đưa các con đi phục dựng Tiên Môn.” Rồi đứa bé gái lớn nhất, khuôn mặt nó rất tỉnh táo lạnh lùng, đứng lên bảo hai em: “Đi thôi!”
Thế là họ bắt đầu một hành trình mới.