Phẫn Nộ Đại Tôn Giả

Phẫn Nộ Đại Tôn Giả

Thứ Tư, 8 tháng 2, 2017

Mary Baker (2)

Vài lời: Cuộc đời thánh giá của Baker phải hứng chịu bão táp, khổ nhục. Nhưng chưa bao giờ có trận kinh thiên động địa nào lay chuyển nổi tinh thần sắt đá phi thường của bà. Khi con đường của Bà mở lối đến Thiên Đường, thì tất cả những kẻ từng gây tổn thương lên bà đang lụn bại dằn vặt trong những xó xỉnh bẩn thỉu quên lãng. Mặc dù chúng còn cố mở miệng như thể chứng minh mình còn thoi thóp, thì chúng thực đã chết rồi. Chỉ là một năm, hai năm... để tận kiến quỷ dữ mục ruỗng rụng xuống, và nhìn rõ hơn ánh sáng vinh quang của Thiên Đàng.

"Can đảm lên, vì Thày đã thắng thế gian" [Ga 16:33]


Để cầu nguyện cho phải lẽ, hãy tiến vào căn buồng, đóng cửa lại. Ngậm chặt môi và đóng mọi giác quan. Trong thánh đường lặng im của mong ước thành khẩn, ta sẽ xóa bỏ tội lỗi và chứng nghiệm Thiên Chúa toàn năng. Gắng lên để vác được thánh giá, hãy cất bước với lòng son để hành sự và thấy biết trí huệ, Chân lí và Tình yêu thương. Đó chính là cầu nguyện không ngừng [Thê-xa-lô-ni-ca 5:16]. Lời cầu nguyện này tự đã được đáp lại, bởi ta đang thực thi chính chí nguyện của mình. Tôn sư đã huấn thị: hãy cầu nguyện trong kín đáo và để sự sống nơi ta tuyên thệ cho lòng thuần thành.

Những tín hữu Cơ đốc hân hoan trong sự ban tặng và vẻ đẹp cẩn mật, vô hình trước thế gian, nhưng được Thiên Chúa lí đến. Buông bỏ cái tôi, trở nên thuần khiết và biết yêu thương là những lời cầu nguyện hằng tại. Sự thực thi những điều ấy không chỉ là lời thề, cũng như thấu ngộ ấy không chỉ là đức tin, mà hãy là đôi tai và cánh tay phải của Đấng Tối cao, để được ban những ơn phép vô biên. Đức đáng-tin-cậy là căn yếu cho đức tin được khai ngộ. Không xứng với điều linh thánh, thì làm sao nhận được điều linh thánh.

Cuộc từ bỏ vĩ đại mọi thứ phàm tục trước hết nhất định phải là thấu ngộ tinh thần ưu việt này. Lời cầu nguyện tót vời đâu chỉ là đức tin; mà phải là sự chứng thực. Đó chắc chắn là phép chữa lành bệnh tật, tiêu trừ tội lỗi và thoát khỏi cái chết. Từ đó mà phân định giữa Chân lí và thói hư huyễn của những gì sai lệch.

Tôn sư của chúng ta đã dạy các môn đồ một lời cầu nguyện vắn mà ta thường gọi là Kinh Lạy Cha. Ngài bảo, anh em hãy cầu nguyện như vầy [Matthew 6:9], và Ngài dùng lời cầu nguyện ấy tóm lại tất thảy những gì con người cần đến. Hẳn là có những bất đồng sâu sắc giữa những học giả kinh Thánh, xem liệu bài Kinh Lạy Cha có bị pha tạp bởi những người ghi lại lời cầu nguyện về sau, nhưng điều đó chẳng hề làm lay chuyển chân nghĩa trong đó.

Thường ta niệm rằng, "xin cứu chúng con khỏi sự dữ" , nhưng nguyên gốc là Xin cứu chúng con khỏi quỷ dữ [Matthew 6:13]. Lối nói nguyên gốc ấy càng ủng hộ cho cách hiểu chính xác của chúng ta về cầu nguyện; và giờ những bậc thày của Khoa học Cơ đốc hẳn biết rằng "quỷ dữ", hay một kẻ dữ ác, chỉ là tên gọi khác của kẻ dối trá Thiên Chúa đầu tiên, và tất thảy những kẻ dối trá khác.

Chủ Nhật, 5 tháng 2, 2017

Mary Baker Eddy (1)

(Science and Health, Trích dịch)

Lời cầu nguyện đích đáng cần đến trạng thái trầm tĩnh tự vấn lương tâm, đó chính là điểm mà kẻ tội đồ bộc lộ rõ ra phần đạo đức giả của mình. Ta cần gì phải tuyệt vọng nếu có một tâm can chí thành; nhưng hi vọng thật nhỏ nhoi biết bao cho những kẻ hiếm khi nào dám đối diện với phần dữ ác trong mình cũng như tìm cách lẩn trốn khỏi sự thật đó. Lời cầu nguyện của chúng rõ là chẳng liên can gì với bản chất trong chúng. Chúng giữ sợi liên hệ giấu giếm với tội lỗi, như những lời phán định vĩnh cửu của Đức Jesus, Các người giống như mồ mả tô vôi, bên ngoài có vẻ đẹp, nhưng bên trong thì đầy xương người chết và đủ mọi thứ ô uế [Matthew 23:27].

Nếu một kẻ nọ, dù bề ngoài trông như thể nhiệt tâm và sùng tín lắm, hóa ra lại chẳng thuần thành và vì thế còn giả dối, thì phải nói gì về kẻ ấy đây? Nếu hắn ta quả cao thượng như lời cầu nguyện của mình, vậy được. Nếu ta thật có nguyện, biết khiêm hạ, thật tri ân, và biết yêu thương như những lời cầu nguyện của mình - thì Thiên Chúa chứng cho điều ấy; và khôn ngoan ấy là đừng có cố tự lừa mình dối người, vì Không có gì che giấu mà sẽ không tỏ lộ, không có gì bí mật mà người ta sẽ không biết [Luke 12:2, Matthew 10:26]. Lời cầu nguyện ồn ào nghe hay ho thường có vẻ như tình yêu thương vô tư của ai đó - nó thật ra bao che muôn vàn tội lỗi [1 Peter 4:8]. Còn cầu nguyện cho đức khiêm hạ bằng bất cứ biểu hiện nồng nhiệt nào cũng chẳng hề nói lên nguyện vọng đích thực là như thế. Nếu ta ngoảnh mặt với kẻ bần cùng, ta thật chẳng xứng nhận được ban thưởng từ Đấng phù trợ cho kẻ nghèo hèn. Chúng ta thú nhận rằng mình có một trái tim hư đốn và cầu cho nó được phơi bày trước chính mình, nhưng liệu chúng ta có thực sẵn lòng muốn biết nhiều về trái tim ấy hay cũng chỉ nhiều đến mức như khi cho người hàng xóm biết về nó?


Hãy tự vấn lương tâm đi và học lấy những điều gì là chân đích và tình nghĩa của tâm can, vì chỉ như thế ta mới thực thấu biết xem ta lương thiện đến độ nào. Nếu có bằng hữu bảo cho ta biết điều lầm lỗi nơi ta, ta liệu có kiên nhẫn lắng nghe những lời bóc tách và cảm ơn chân thành những gì được chỉ ra ấy? Hay chúng ta lại sẽ lịch sự nói cảm ơn và bảo, "ấy, nào phải tôi đâu"? Suốt nhiều năm chính tôi đã luôn thật lòng cảm tạ những lời khiển trách đích đáng. Có cả những điều sai quấy ẩn tàng trong sự chê trách ác ý - đó là một lầm lạc sẽ không khiến ai tốt lên vì nó. 

Thứ Tư, 1 tháng 2, 2017

Ghi chép trị liệu (1)

Ghi chép trị liệu (1)

A. 
Bốn loại người qua một thời gian trị liệu được chẩn định là không thể chữa và bốn loại người không thể xá:


1. Không thể chữa cho người không đáng chữa, vì có chữa cũng sẽ lại bệnh hoạn - và nữa, không thể xá cho tội phỉ báng phương pháp trị liệu và nhà trị liệu của kẻ đã-biết-vẫn-phỉ-báng.

2. Không thể chữa cho kẻ vốn không định chữa, chỉ đi tìm một nơi để lảm nhảm - và nữa, không thể xá cho kẻ mãi bác bỏ phương pháp trị liệu và nhà trị liệu bằng thói điên loạn.

3. Không thể chữa cho kẻ giả vờ muốn chữa, vì kẻ đó cốt ý là đắm vào bệnh tật - và nữa, không thể xá cho kẻ lợi dụng phương pháp trị liệu và nhà trị liệu để tham đắm.

4. Không thể chữa cho kẻ muốn bệnh hoạn, vì kẻ đó nhất định sẽ bệnh hoạn - và nữa, không thể xá cho kẻ dùng cơn bệnh hoạn của mình để bài bác phương pháp trị liệu và nhà trị liệu.


Với những loại người này, căn bản chỉ có thể dùng thuốc (các loại thuốc đặc trị tâm thần) hoặc các phương pháp cưỡng chế bắt buộc.


B. 
1. Tôi gặp trường hợp thế này: một người nữ tìm cách phỉ báng, bác bỏ phương pháp trị liệu và nhà trị liệu suốt một thời gian dài, rồi tìm cách đổ lỗi cho phương pháp và nhà trị liệu, tự động tái lý giải quá khứ bằng những lời hằn học ác ý điên loạn bất trí. Tôi đã từ bỏ việc trị liệu cho người ấy.

2. Tôi gặp trường hợp thế này: một người nữ nọ tham đắm vào bệnh tật, cùng lúc luôn tìm cách để dùng phương pháp trị liệu biện hộ cho bệnh tật đó là đúng-lí. Sau một thời gian dài trị liệu, cô ấy bắt đầu thấy bệnh tật là đúng lí, vì giờ đã tìm ra cách để dùng ngôn từ trị liệu biện hộ cho bệnh tật. Tôi cũng đã từ bỏ việc trị liệu cho người ấy.

3. Tôi gặp trường hợp thế này: một người nam nọ dù được trị liệu và đạt được các kết quả, đã lành một số triệu chứng, vẫn cố lặp lại các triệu chứng để bác bỏ phương pháp trị liệu và sỉ nhục nhà trị liệu. Thậm chí, anh ta cố tình mắc lại các bệnh nhân gian, rồi lại tuyên bố đã theo một phương pháp trị liệu cao hơn và khỏi để sỉ nhục phương pháp trị liệu của tôi. Sau đó anh ta lại bệnh lại, nhưng đã quen che giấu bệnh tật của mình, chỉ phát tác khi nhắc đến phương pháp trị liệu của tôi. Tôi xem anh ta là bị loạn thần kinh hoàn toàn, không thể chữa trị. Tôi đã đề xuất cho anh ta xuất viện và trả về cho gia đình. Tại gia đình, anh ta cố gắng truyền bệnh cho người xung quanh để khẳng định mình. Tôi cho rằng chứng bệnh tâm thần của anh ta có xu hướng lây lan, xâm nhiễm, nên đã đề nghị cách ly.

Thứ Bảy, 28 tháng 1, 2017

Trục xuất

Để bảo vệ chúng khỏi bóng đêm và tăm tối, anh đã mở mắt cho chúng, chỉ cho chúng thấy những cạm bẫy đô thị, những ma vương và quỷ dữ. Chúng ngần ngừ nhìn nhau, đợi anh quay đi, dùng con dao tư tình giết nhau. Mắt chúng hằn học, giọng lưỡi giả dối, chúng muốn lừa anh như quỷ dữ định hãm hại Đức Chúa Cha,

Nhưng anh biết đâu là lưỡi rắn, đâu là giọng người, đâu là tiếng người công chính.

Anh trừng mắt nhìn chúng, hiện nguyên hình nhưng trái tim nhơ nhớp, chực rỉ ra những giọt tình đen thắm. Anh bảo chúng: "Hãy tan đi, bề tôi của quỷ dữ." Vậy mà chúng đã từng là hồng bảo ngọc, lam bảo ngọc mọc ra từ những long mạch thẳm sâu.

Có tình không có Trí, nhiễm tình tất hoại Tâm. Trao cho kẻ tăm tối ngọn đèn, chúng tất vứt xuống bùn. Thật là đáng trách.

Nhưng còn có điều quan trọng hơn:

Cộng đồng đã tựu thành rồi. Đêm tối không thể xâm phạm Mặt Trời. Những kẻ phá hoại đều gục ngã và bị hất ra xa. Anh quay lại nhìn những người anh tin tưởng nhất. Họ như đá mặt trời, hễ gặp nhau sẽ bừng sáng.

Đã đến lúc chào đón những Mặt Trời đích thực đang tìm đến Cộng Đồng.

Nhanh chân lên.

Tặng máu thịt ta mấy lời trong kinh Thánh

Cớ vấp ngã (Mt 18: 6-7; Mc 9:42 )

1 Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng: "Không thể không có những cớ làm cho người ta vấp ngã; nhưng khốn cho kẻ làm cớ cho người ta vấp ngã!2 Thà buộc cối đá lớn vào cổ nó và xô xuống biển, còn lợi cho nó hơn là để nó làm cớ cho một trong những kẻ bé nhỏ này vấp ngã.3 Anh em hãy đề phòng!

Sửa lỗi anh em (Mt 18: 15, 21 -22 )

4 Dù nó xúc phạm đến anh một ngày đến bảy lần, rồi bảy lần trở lại nói với anh: "Tôi hối hận", thì anh cũng phải tha cho nó."

Sức mạnh của lòng tin

5 Các Tông Đồ thưa với Chúa Giê-su rằng: "Thưa Thầy, xin thêm lòng tin cho chúng con."6 Chúa đáp: "Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải, thì dù anh em có bảo cây dâu này: "Hãy bật rễ lên, xuống dưới biển kia mà mọc", nó cũng sẽ vâng lời anh em.

Phục vụ cách khiêm tốn

7 "Ai trong anh em có người đầy tớ đi cày hay đi chăn chiên, mà khi nó ở ngoài đồng về, lại bảo nó: "Mau vào ăn cơm đi",8 chứ không bảo: "Hãy dọn cơm cho ta ăn, thắt lưng hầu bàn cho ta ăn uống xong đã, rồi anh hãy ăn uống sau! ?9 Chẳng lẽ ông chủ lại biết ơn đầy tớ vì nó đã làm theo lệnh truyền sao?10 Đối với anh em cũng vậy: khi đã làm tất cả những gì theo lệnh phải làm, thì hãy nói: chúng tôi là những đầy tớ vô dụng, chúng tôi đã chỉ làm việc bổn phận đấy thôi."

Mười người phong hủi

11 Trên đường lên Giê-ru-sa-lem, Đức Giê-su đi qua biên giới giữa hai miền Sa-ma-ri và Ga-li-lê.12 Lúc Người vào một làng kia, thì có mười người phong hủi đón gặp Người. Họ dừng lại đằng xa13 và kêu lớn tiếng: "Lạy Thầy Giê-su, xin dủ lòng thương chúng tôi! "14 Thấy vậy, Đức Giê-su bảo họ: "Hãy đi trình diện với các tư tế." Đang khi đi thì họ được sạch.15 Một người trong bọn, thấy mình được khỏi, liền quay trở lại và lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa.16 Anh ta sấp mình dưới chân Đức Giê-su mà tạ ơn. Anh ta lại là người Sa-ma-ri.17 Đức Giê-su mới nói: "Không phải cả mười người đều được sạch sao? Thế thì chín người kia đâu?18 Sao không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này? ".19 Rồi Người nói với anh ta: "Đứng dậy về đi! Lòng tin của anh đã cứu chữa anh."

19 "Triều Đại Thiên Chúa đang ở giữa các ông"20 Người Pha-ri-sêu hỏi Đức Giê-su bao giờ Triều Đại Thiên Chúa đến. Người trả lời: "Triều Đại Thiên Chúa không đến như một điều có thể quan sát được.21 Và người ta sẽ không nói: "Ở đây này! hay "Ở kia kìa! , vì này Triều Đại Thiên Chúa đang ở giữa các ông."

Thứ Năm, 22 tháng 12, 2016

Ngày Chúa Giáng sinh

Mỗi lần con vấp ngã
Con gọi tên Ngài đến mệt lả
Con quỳ xuống cầu nguyện với lặng im
Thấy mình chìm trong mênh mông miên viễn...

Con thấy bóng mình hằn trên đường xa
Liệu mai này con có đến đích không Cha?
À, con không nên hỏi những câu như vậy
Ngài đã bảo con, 
"Ngươi là con Ta"

Cha ơi chân con ứa máu cả rồi
Ngón chân hình như không bám được vào đất
Con có được quỵ ngã không Cha?
Chỉ một lúc thôi, rồi con chợp mắt
Chỉ một chút thôi, rồi con thức giấc
Có được không thưa Cha?

Cha ơi nếu Cha ngự trong lặng im
Người có lắng nghe con không?
Con thường đi đường và sa vào trống rỗng
Định tìm trong hư vô một hào quang lồng lộng
Định ôm trong tay ân huệ mênh mông
Nhưng con chỉ ôm được thinh không
Cha ơi, Cha có đó không?


Cha ơi con ngã mất rồi
Chân con mỏi lắm, sức con kiệt lắm
Người ta đi trăm dặm, con chỉ bước bấy nhiêu
Sao con lại gục ngã hả Cha?
Con là con Cha cơ mà, Cha bảo vậy cơ mà?
Sao chiên của Ngài đóng đinh con
Sao con bị đóng đinh trên thập giá?

Cha ơi, sẽ ra sao nếu con không ngã?
Sẽ ra sao nếu mỗi lần cầu nguyện trên những ngọn đồi lạnh lẽo
Con được nghe tiếng Cha?
Con được biết Ngài không ở xa
Mà ở ngay bên con
Ngay trong con
Sưởi ấm khi con lạnh
Ban an lành khi con âu lo?

"Con của Ta
Con là con Ta"

Vâng thưa Cha
Có phải khổ đau này là để được nghe tiếng Ngài?
Có phải bi ai này là để được trông thấy Ngài?
Như mọi quyền năng con được ban để vinh danh Ngài?

Thưa Cha con sẽ không hỏi nữa
Con sẽ hóa thành Lửa Trời, giáng xuống kẻ mạo danh Cha
Con sẽ hóa thành Ánh Sáng, bay lên phụng dưới chân Cha
Con sẽ hóa thành Cầu Nguyện, tụng ca Cha
Con sẽ hóa thành 

Con Cha


Thứ Hai, 12 tháng 12, 2016

Phù Vân, Thế gian (08)

Quay trở lại cái mốc mà, lúc đấy Duy Hựu, Dương Tiên với Bạch Vân Cư Sĩ cùng với các Hộ pháp, tất cả mọi người đều đang ở trong một trạng thái gần như đến giai đoạn đối địch. Đó là một mốc rất quan trọng, bởi vì trong những cuộc đấu phép thì không bao giờ lại nên biến thành tình trạng đối địch, ngay cả những công phu tu luyện võ công, thì mọi người chỉ là cái tranh đấu đấy, chứ không phải là đối địch, tức là không coi người kia là địch thủ. Nhưng đến một điểm nhất định, giả sử phải thật sự coi người kia là địch thủ, thì đấy chính là một giai đoạn, đấy chính là một mốc mà những cái duyên nghiệp sẽ được tích lũy. Vì người tu Đạo không tích thêm nghiệp, có thể tích thêm duyên chứ không tích thêm nghiệp, do đấy nếu như biến trở thành một nghiệp thì đấy là chuyện rất nguy hiểm. Thế nhưng áp lực của Bạch Vân Cư Sĩ và các vị Hộ pháp kia, gần như chính là để bức cho bằng được tình trạng biến thành đối địch.
Nếu người dưới có thể bức được người trên, đấy sẽ thành cái tội lỗi rất là lớn, vì người dưới nguyên tắc không được bức người trên. Cũng đơn giản như việc khi mọi người đứng trước một bàn thờ, một Điện Thờ, hay là đứng trước các vị Thần, mọi người không được chất vấn, không được lôi kéo, không được làm việc gì cả, không được xếp ngang hàng với họ… Bởi vì tất cả điều đấy đều ngang với bất kính. Nên nếu đến cái mức gây ra tội giết La Hán, làm chảy máu Phật, thì tội đấy không thể tha được. Lúc đấy nếu phe Bạch Vân Cư Sĩ có thể bức Dương Tiên đến chỗ phát sinh một ý tưởng đối địch, thì bên Bạch Vân Cư Sĩ cũng là tội nghiệt không để đâu cho hết, và Đạo hạnh của Dương Tiên cũng theo dòng nước mà trôi. Ở tầng của Dương Tiên, một niệm sa ngã là không cứu vãn được. Bởi vì khi đối địch với một người, thì đã sẵn bằng người đấy rồi, chính là tầng thứ như nhau, cho nên chuyện lúc đấy hết sức khẩn cấp. Khẩn cấp là bởi vì Dương Tiên không chỉ bảo vệ mình, thực ra thì đúng như trong Tiên Môn, “Tiên bảo kì thân”, có rất nhiều nghĩa, nhưng nghĩa đầu tiên và nghĩa căn bản nhất đấy là Thân này là Tiên bảo. Trong việc tu luyện, cho dù bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải bảo vệ mình chính là vì Đạo. Đây là một cái lí rất là tinh tế mà thực ra đòi hỏi một lí trí rất vững mạnh để biết chuyện này. Người ta bảo vệ thân mình được, thì đấy chính là đang bảo vệ quá trình phụng sự Đạo, người nào không bảo vệ được mình, thì xem như quá trình phụng sự này là không đảm bảo.
Quay trở lại lúc đấy, lực lượng của Bạch Vân Cư Sĩ đều dồn rất mạnh rồi, và Dương Tiên cũng đến cái lúc là muốn bảo vệ Duy Hựu và nhà vua thì đều phải dùng Thần lực của mình, và nếu thế thì phải huy động Thần lực ở một mức quá đáng... Là bởi vì thế này, người ta có một thang độ khi người ta đấu tranh với nhau, cái cuộc đấu này cứ lên đến một mức, lên một mức, lên một mức, mỗi lúc một ghê gớm. Đầu tiên chỉ là đọ, tức là so sánh cái sức lực, sau đấy là bắt đầu tương đấu, tức là hai bên thực sự bắt đầu có cái thắng thua, rồi lên cao một mức nữa, nếu như trở thành đối địch thì đấy là phải đến một cái mức nhất định như thế. Nhưng cường lực mà Dương Tiên sử dụng ngày càng tăng cao lên là để duy trì tình huống và cũng để bảo vệ hai người kia. Nếu như Dương Tiên bảo vệ hơn nữa, thì sẽ thành bao bọc chuyện không phải của mình, và nếu bảo vệ hơn nữa, bao bọc chuyện không của mình chưa phải là hết, mà còn đẩy cái năng lượng khiến nó trở thành đối địch với Bạch Vân Cư Sĩ. Lúc đấy Dương Tiên chỉ cần tăng thêm một lượng năng lượng nữa, thì đã thật sự được coi là đối địch rồi. Đấy chính là một quá trình mà đến một mức độ nhất định thì không thể được gia lực thêm, hễ thêm là biến chất. Cho nên đối với người tu Đạo, điều mấu chốt đấy là, với việc nào có thể xử lý với việc đấy đúng như nó nên là, xử lý quá cực đoan hoặc là bất cứ cái ý hướng nào, đều sẽ khiến cho chuyện đấy trở nên biến tướng đi rất tồi tệ. Cho nên ở trong mọi việc đều phải có sự khéo léo để từng bước, từng chừng, từng mực, có thể chuyển hóa nó được.
Lúc đấy cường lực của Bạch Vân Cư Sĩ thực ra có một chút ý là cý gây ra chuyện lớn. Bạch Vân Cư Sĩ ông ấy bắt đầu đã không sợ cái hậu quả của chuyện đấy nữa rồi, mà muốn bức cho Dương Tiên phải lùi bước được. Đấy là vì trong đầu ông có tính toán thế này, ông cho rằng Dương Tiên là bậc đạt Đạo, tất là sẽ vì Đạo hạnh của mình mà không bao quản chuyện người khác, tất sẽ vì Đạo, chứ không vì mình. Đấy là chuyện ông tính toán trước, vì ông ấy đã tính là sứ mệnh nào cũng không bằng tu viên mãn. Cho nên nếu như Dương Tiên bỏ dở mức tu luyện bây giờ, hạ xuống một cấp, một tầng, thậm chí hạ xuống nhiều cấp, nhiều tầng như thế, thì chuyện đấy bản thân Dương Tiên là không chấp nhận nổi. Cho nên Bạch Vân Cư Sĩ cứ dấn tới một bước, khiến cho các lực lượng này trở nên hung hãn một chút, là bởi vì nếu có sát ý đối đầu địch, thì bên kia cũng sẽ phải có một sát ý tương tự.
Lúc đấy hai bức tường vật chất của Bạch Vân Cư Sĩ với Dương Tiên giao nhau, thì các lực lượng vật chất của Bạch Vân Cư Sĩ mang tính hung hãn đối đầu rồi, thì bên kia sẽ có các thái cực tương tự hình thành để nó chống lại điều đấy. Chính là bởi vì hiểu được điều này cho nên là cái việc Dương Tiên bắt đầu chuyển dần sang trạng thái đối địch là chuyện rất nguy hiểm. Thêm một chút nữa, thì lần này Dương Tiên Đạo hạnh cũng rớt, mà lần này Bạch Vân Cư Sĩ và các vị Hộ pháp kia cũng vĩnh bất tái phục, nói chung là sẽ mất đi rất nhiều điều ở trong một chuyện như thế. Nhưng hai bên đều cho rằng mình đang bảo vệ cái lí của mình, tuyệt đối không thấy là mình sai, cũng không lưu tâm đến bản mạng của mình.
Lại kể lúc đấy ba vị Chưởng môn đều tiến vào. Khi ba vị ấy tiến vào, một người mặc áo xanh, một người mặc áo trắng, một người mặc áo đỏ, tất cả chói lòa trong ánh sáng của họ, họ tỏa rực rỡ ra lấp lánh, đấy chính là tam vị Chưởng môn, đấy chính là Tam Tòa nổi tiếng ở trong Nội Đạo Tràng. Bởi vì các vị đi theo kia ngoài các phái khác thì còn rất đông đảo các Hộ pháp của phái Nội Đạo Tràng. Tất cả mọi người của phái Nội Đạo Tràng nhất lượt quỳ xuống. Bạch Vân Cư Sĩ nhếch mép cười nói: “Ba vị đến cũng đúng lúc quá nhỉ!”
Bởi vì ý của ông, đấy là đáng lẽ phải đến sớm hơn để có thể bắt được cái đứa bé kia hơn là xảy ra một cuộc đọ sức, còn khi đã xảy ra một cuộc đấu pháp lực, thì dù gì cũng không thể vãn hồi. Cho nên ở trong người tu Đạo luôn luôn phải giữ pháp lý vô tranh. Nếu như thật sự có thể vô tranh, cái ý của người ta không phải là tranh, thì mọi chuyện sẽ tốt, lúc đấy dù gia cường lực để làm gì cũng không phải là tranh. Nó giống như thế này này, khi mọi người dùng cái búa đập một cái đinh lún xuống, thì cái lực lúc đấy được gọi là một cái lực để gia cố, và nó không mang ý tương tranh. Cho dù về mặt vật lý thì cái đinh đấy nó sẽ đẩy ra một cái lực nó tương đương với lực cái búa đập vào. Cái lực nó sẽ được tản bớt ở trên cái tường, thế nhưng mà cùng một lúc cái phản lực từ dưới nó sẽ dâng lên. Thế nhưng nếu người không có ý tranh, vật chất là không tranh thì nó sẽ không có phản lực đấy, cho nên duyên nghiệp nó sẽ không hình thành theo kiểu đấy, và nó chính là mấu chốt của cái việc là người tu có thể đem cái ý chí, đem cái sinh mệnh của mình đặt vào chỗ Chân Thiện hay không. Nếu đặt được vào thì không bao giờ có kẻ thù, theo nghĩa đen, không bao giờ có kẻ thù. Và thường là người ta sẽ thương yêu kẻ thù như thể thương yêu các vật chất của mình, dạng như thế. Nhưng đấy là một cái lý trong tu luyện.
Bạch Vân Cư Sĩ dù sao đến lúc đấy cũng đã trót bộc lộ cái ý hung hãn rồi, cho nên ông ấy thấy cái việc ba vị Chưởng môn kia đến muộn là một vấn đề mà ông không chấp nhận nổi. Thực ra thì cũng không hẳn là không chấp nhận nổi theo nghĩa xấu, chỉ có thể nói là, ông thấy trong lòng thật không thoải mái. Tại sao ông lại thấy không thoải mái? Mọi người mới nghe thì có thể cho là vô lý, nhưng ở trong Tiên sự thì có sự không thoải mái đấy, đấy là vì thời khắc ở trong Tiên sự đều chính xác phi thường, mọi người đều có thể xuất hiện đúng lúc đúng chỗ, cho nên lúc đấy ba vị Chưởng môn xuất hiện đúng ở nơi đấy, chính là bởi vì phải xuất hiện đúng ở lúc đấy, họ đã đến đúng vào lúc đấy mà đến chứ không phải là lúc khác. Cho nên đối với Bạch Vân Cư Sĩ lúc đấy chuyện quả thực không vừa ý.
Lúc đấy Bạch Vân Cư Sĩ còn chưa kịp cất tiếng thì Dương Tiên đã cất tiếng trước, ông thủng thẳng nói là: “Các vị là các Địa Tiên, việc gì phải nhúng tay vào việc này.” Lúc ấy ông vừa nói xong thì tiếng lảnh lót của La Bình Công Chúa đáp lại: “Nếu chúng ta không nhúng tay vào việc này, cớ gì Ngài phải nhúng tay? Những bậc Thiên Tiên như Ngài tốt nhất là nên lo Đạo giời. Còn nhớ những năm trước khi mà ma chủng đến nơi, ma khí tràn khắp các cõi, lúc ấy các Ngài lo bảo vệ Đạo lớn của mình ở đâu? Đến lúc không bảo vệ được chính mình cũng chẳng bảo vệ được Đạo, chỉ còn cách để dựa vào những an bài có sẵn của Nội Đạo Tràng ta mà thi hành. Chuyện đấy Ngài nói là tốt hay là xấu?” Thực ra thì Dương Tiên là bề trên, tất nhiên là không trách với kẻ dưới, tuy nhiên cũng có một lý, đấy chính là cái lúc ma chủng theo chân vào cửa Vĩnh Lộc, Thanh Hóa, vào cửa Thần Phù, thì lúc đấy đã có một cái sự im lặng của Tiên Môn, sự im lặng này thực ra còn gây ra rất nhiều vấn đề trong lịch sử sau này. Nhưng đấy là một cái lựa chọn trong quan hệ với Đạo, cho nên chuyện đấy nhất định phải xảy ra như thế. Nhưng cái vùng nào rút cục sẽ đón Thiên Pháp tốt nhất, nơi sẽ đón Thiên Pháp tốt nhất đích thị đấy là nơi sẽ cùng truyền nhiều loại Tôn giáo, nhiều loại Tín ngưỡng. Cho nên lúc đấy có những cái tính toán đằng sau xa dài hơn nhiều, chuyện đấy nhất thời không nói được. Sự thể đại loại là vậy.
Quay trở lại, lúc đấy Dương Tiên nhìn vào La Bình Công Chúa lại mỉm cười tiếp, Ngài lại nói là: “Ngươi rút cục đều là muốn trách cứ ta chứ không phải muốn giải quyết sự vụ này đúng không?” La Bình Công Chúa đáp lại: “Ta nhất định muốn giải quyết, thế nhưng ta phải giải quyết theo hướng ai nên giải quyết thì người đấy giải quyết.” Dương Tiên lại đáp: “Nếu chuyện này vốn là để Đạo đặt định, cho nên ta thuận Đạo mà làm, cũng không phải chuyện ngươi sắp xếp, càng không phải chuyện ta sắp xếp. Để xem nên thế nào, e rằng không phải như ngươi nghĩ.” La Bình Công Chúa thét lên: “ Làm sao lại không như ta nghĩ, vì chuyện này vốn là do ta đặt định, ông Trời chính là sắp đặt cho ta đặt định như vậy!”
Lúc đấy Dương Tiên còn chưa kịp cất lời thì đã thấy Liễu Hạnh bước về phía trước, nàng mỉm cười, ánh mắt vô cùng trong sáng, thân thể Liễu Hạnh toát ra một ánh sáng trắng vằng vặc, giống như ở giữa ban ngày mà trăng đang mọc, một cảm giác rất dị kì. Chính cái cảm giác dị kì của các vật chất Tiên chủng này đã khiến cho người ta khi gặp những người ở trong Tiên Môn thường có một cảm giác rất dị kì, nó giống như luôn luôn sống trong các ảo ảnh thiên tượng nào đấy, nhưng bản thân họ là một thiên tượng, bản thân Tiên Môn là thiên tượng. Đang nói về Nội Đạo Tràng, lúc đấy Liễu Hạnh bước lên, khuôn mặt rất từ ái, nàng mỉm cười nói với Dương Tiên rằng: “Xin tạ lỗi với Tiền bối, đã khiến cho Tiền bối phải phiền lòng. Thế nhưng sự vụ đứa bé này quả nhiên nghiêm trọng, chúng ta nhất định phải xử lý, đây chính là đặt định cho tương lai của Tông Đạo xứ này.” Lúc đấy Dương Tiên lắc đầu nói: “Các ngươi luôn miệng nói Tông Đạo, Tông Đạo dĩ nhiên là có một phần ở trong việc này, nhưng đấy không phải là mấu chốt. Mấu chốt là đây chính là thiết lập một nền tảng Đế Vương để chờ đón trong tương lai Chính Pháp sẽ về nơi này.”
Ông dùng đúng từ “Chính Pháp”. Tại sao ông có thể dùng đúng từ Chính Pháp, bản chất từ Chính Pháp vốn đã được tương truyền từ rất lâu ở trong Phật Pháp. Thực ra việc ông gọi đây là Chính Pháp là một điều rất kỳ quặc. Bởi vì vốn lẽ ông phải gọi là Chân Đạo, nhưng ông lại không gọi nó là Chân Đạo lại gọi là Chính Pháp. Hiển nhiên ta biết là giữa Dương Tiên với Âm Tiên có một mối liên hệ. Điều Âm Tiên đã biết, hiển nhiên cũng là điều Dương Tiên sẽ biết. Lúc đấy Âm Tiên đã theo một thần chú rất lớn, tụ tập một năng lượng cực lớn, một loại cấm chú để đi về miền tương lai. Cho nên khi ông chuyển từ tương lai đến tín tức đấy, thì Dương Tiên cũng hiểu thế nào là vấn đề Chính Pháp. Có điều lúc đấy lại không phải là lúc để những người ở Nội Đạo Tràng thắc mắc về điều đấy.
Lại nói lúc đấy Liễu Hạnh quay sang Bạch Vân Cư Sĩ bảo rằng: “Ngươi thấy việc này rút cục nên xử lí thế nào?” Bạch Vân Cư Sĩ liền đáp: “Ta đã xử lí, có điều hậu quả cũng không thể đo đếm được. Từ nay các ngươi nếu không đưa được đứa bé về, thì xem như chính các ngươi trái mệnh của Ngài.” Rút cục thì hai người đấy đang nói đến “Ngài” nào, đấy là chuyện hồi sau sẽ rõ. Nhưng ngay lúc đấy Dương Tiên bật cười ha hả: “Ra là các người có chỗ chống lưng, thảo nào dám mạo phạm đến chỗ Âm Dương Song Tiên chúng ta.”
Lúc đấy lại nói Mẫu Thiên bước ra, nàng tỏa ra một ánh sáng rực rỡ giống như mặt trời, giọng nói của nàng ngọt ngào và vang khắp rộng căn phòng, giống như âm vang ở trong Tâm của mỗi người. Mẫu Thiên mới nói: “Ta biết Ngài có ý trách cứ, nhưng chuyện này không phải là chuyện trách cứ, Ngài cũng biết điều đấy. Đứa bé này là có trọng mệnh, nhưng ai giúp nó làm trọng mệnh, điều đấy cũng không phải là do ta hay do Ngài chọn. Chúng ta đã tham bốc, xem quẻ, cúng trời, cầu đất, chờ đợi mọi điều, đều ra điều là Nội Đạo Tràng sẽ là người giúp đứa bé này khôi phục Thần khí nhân gian. Cho nên từ nay Nội Đạo Tràng sẽ là người đứng chủ mệnh ở xứ này và trở thành những người bảo trì Thần khí và những cánh cửa dẫn lối cho Thần khí xuyên nhập nhân gian.” Dương Tiên cười nhạt đáp: “Các ngươi mở miệng là xứ này, các ngươi không thấy là Đạo. Còn ta không nói là Đạo, thì đã đáp ứng cả xứ này rồi.” Ý của Ngài nói là, Đạo có thể đáp ứng được một xứ, tức là ý Ngài muốn nói là, Đạo có thể bao quản, có thể chuyển hóa, có thể điều khiển mọi thứ, chuyện ở xứ này xét đến cùng là chuyện ở trong Đạo, cho nên điều cần nhắm đến là điều lớn chứ không phải điều nhỏ, cần nắm đến là đại thể chứ không phải tiểu tiết, ý Ngài là như vậy. Ý Ngài tức là, khi đứa bé này phụng sự Đạo, thì chuyện ai được tốt sẽ tự nhiên tốt, chớ nên nghĩ nhiều.
Lúc đấy La Bình Công Chúa cũng nhảy vào nói tiếp: “Ngài nghĩ xem, thực ra thì chúng ta không có ý biến chuyện này thành chuyện nhỏ bé tiểu tiết, có điều đứa bé kia là đặt định cho chúng ta giúp đỡ, đưa đường cho nó, không thể bây giờ Ngài muốn dẫn lối cho nó thì dẫn lối được.” Dương Tiên trầm tư suy nghĩ một lúc rồi đáp: “Hãy hỏi ý kiến nó xem sao.” Vốn Ngài nói câu đấy không phải là bởi vì thật sự cần hỏi ý kiến đứa bé, Ngài nói câu đấy có ý là, Đạo thể hiện qua đứa bé, tự nhiên nó sẽ nói điều chân chính, và vì điều Ngài làm chính là chuyện của Đạo, cho nên Ngài tin rằng an bài đều có đầy đủ, đứa bé chọn hay không chọn lúc đấy không phải là quyền của nó chọn hay không chọn, mà là xem Trời Đất nó chọn hay không chọn. Lúc đấy Ngài chỉ đứa bé, gọi Duy Hựu lại nói: “Duy Hựu, con muốn đi cùng ta tiếp con đường con đang đi, hay con trở thành một bộ phận của Nội Đạo Tràng, và con sẽ đi theo lối của Nội Đạo Tràng chỉ bảo?”

Duy Hựu trong lòng hết sức bâng khuâng, lúc đấy vừa trải qua một áp lực cực lớn, trái tim giống như nhẹ bỗng, hơn nữa tâm tình bỗng nhiên bất giác nổi lên một cảm giác muốn an dật. Cho nên nó còn chưa kịp trả lời thì Dương Tiên đã mỉm cười nhìn nó nói: “Nếu quả thật tâm ngươi muốn an dật, thì cũng không nhất thiết phải theo Nội Đạo Tràng cơ mà?” Thực ra trong câu đấy đã bao gồm rất nhiều ý tứ nghiêm trọng. Đấy là bởi vì một người ở tầng Dương Tiên không ngẫu nhiên mà kéo một người, không ngẫu nhiên mà thêm một người, không ngẫu nhiên mà đặt định một người vào một vị trí, đã hy vọng ở Duy Hựu tuyệt nhiên là vì Duy Hựu có sứ mệnh to lớn. Rồi Dương Tiên lại nói tiếp, và quả đúng như vậy, Dương Tiên bảo: “Rút cục ngươi sẽ là vì sứ mệnh Sư môn, hay là vì cảm tính cá nhân, đều là do ngươi chọn.” Điều ấy thực sự tác động vô cùng lớn đến Duy Hựu.

Chủ Nhật, 11 tháng 12, 2016

Thế nào cũng được

Ta thấy người ta xem thường những người ta yêu quý. Họ cúi đầu lặng im cầu một chút tình. Khi mất đi cái tình ấy rồi họ hoảng loạn nháo nhác. Này những người ta yêu quý như máu thịt, mạng các ngươi đáng giá một chút tình đấy sao? Mạng các người đáng với những niềm vui nhỏ bé ngày ngày tháng tháng, dăm ba nụ cười một chút quan tâm sao?

Ta thấy người ta bôi nhọ phán xét những người ta yêu quý. Họ thẫn thờ ngó nhìn muốn bật ra một lời xin lỗi. Khi bị từ chối hoặc lúc được lôi kéo họ sợ hãi và hân hoan. Này những người ta yêu quý như máu thịt, mạng các người đổi lấy một lời níu kéo sao? Mạng các ngươi bằng với nỉ non nức nở, hận hận oán oán, yêu đương mong chờ nhân gian đấy sao? 

Các ngươi có thấy ta không?

Các ngươi có thấy Mạng của mình không?

Còn Sứ Mệnh? 

Và điều Thiêng Liêng?

Thế nào cũng được, nếu phải đổi mạng lấy chút tình nhân gian, thì đừng lấy điều Thiêng Liêng, lấy Sứ Mệnh làm khiên che cho mình.

Ngươi có can đảm nhìn thấy ta không?

Hay không còn được nhìn Nhan ta nữa?

Thứ Năm, 24 tháng 11, 2016

Cũng khó

1. Đợt trước anh nhận ra những người có vấn đề về tâm thần hóa ra rất dễ giương cao Phật Pháp, tôn giáo, tín ngưỡng làm lá chắn cho họ tha hồ sống bất thường, bạc nhược, oán hận, giả dối... Về mặt trị liệu tâm lí, chuyện ấy bình thường thôi. Về mặt tu luyện, chuyện ấy rất sai trái. Sau 5 năm quan sát rất nhiều trường hợp, anh cho rằng người bị các chứng bệnh-tâm-thần không hề cải thiện khi bước vào Phật môn hay tu luyện, họ ngày càng tệ đi hoặc che giấu các chứng tâm thần của mình tinh vi hơn.

Họ ở trong một cấu trúc tâm lí rất linh động. Anh cho là gồm ba phần. 

(i) lớp vỏ bọc, tỏ ra dễ cảm nhiễm Phật Pháp
(ii) đặc tính của vỏ bọc, dễ ăn nói giống người tu hành tốt nhưng lại dễ kích động, ủy mị, lảm nhảm
(iii) công dụng của vỏ bọc, luôn thấy mình là nạn nhân hoặc luôn mong một ai đó là nạn nhân.

2. Vì đây là một trường hợp cực kì đặc biệt, nên anh phải ghi lại một số đặc điểm của họ để tiếp tục ghi nhận các "ca" trà trộn như thế (lưu ý rằng họ chỉ là một trong những loại trà trộn):

a. Những ý nghĩ bài xích, bôi bác, sỉ nhục, ngờ vực người khác "nhân danh" đạo lí xuất hiện nhiều đến mức không thể trần áp. Đến một điểm nọ họ nghiễm nhiên dùng đạo lí để hợp thức hóa các ác ý. Điểm đặc biệt là để cân bằng lại trạng thái ác ý này, họ thường ca ngợi những một số tấm gương sống thuần hậu hoặc tỏ ra xúc động ủy mị trước những câu chuyện Phật Pháp, tu luyện... Dần dần, tất cả những trạng thái-giả tượng đó lại hòa làm một và tạo cho họ một lớp vỏ bọc chắc chắn.

b. Họ có khả năng sao chép giọng điệu và logic của người khác khá tốt. Lớp vỏ giả tượng-tâm thần sau khi hình thành sẽ giúp họ tránh phải đối mặt với chính mình, mất khả năng hướng nội, tăng mức tự dằn vặt hoặc oán hận. 

Người ta sao chép lối nói của người khác và giả lập tình trạng của mình dễ nhất khi không còn biết đến thực chất của mình. Trạng thái này khác với tâm thái của người từ bi: người từ bi, vị tha thấu hiểu nỗi đau buồn nhưng không tự biến thành bi lụy, lảm nhảm. Còn đám người tâm thần bước vào Phật môn khi đến một giai đoạn sẽ lảm nhảm một chuyện rất nhiều, dễ xúc động, dễ kích động, bắt chước giọng điệu cao thượng rất nhanh. Nhưng về mặt tiêu chuẩn tâm tính cao, thì họ gần như ngày càng lùi chứ không tiến. Tuy nhiên, khi mọi người xung quanh thỏa mãn loại này, thì họ rất nhân ái vui vẻ rộng lượng, cho dù sẽ lập tức rơi vào tâm thái nghi ngờ, phán xét người khác. Một đặc điểm của chứng tâm thần phân liệt thường nhật (lưu ý: khác với chứng đa nhân cách).

c. Lớp vỏ bọc này biến họ thành nạn nhân của chính mình. Trong trường hợp họ chưa bị xâm nhiễm trọn vẹn (không thể cứu nữa, bất-xá), họ vẫn thấy được mình sai, vẫn nhận ra mình không đúng, luôn tìm cách vượt lên vỏ bọc dù trầy trật, thất bại. 

Còn đã ở giai đoạn bất-xá, họ chuyển sang một trạng thái cực kì xấu. Khi đó, họ dùng Phật-Pháp để gây sự, hành ác, chống đối, đả kích, sỉ nhục mọi tư tưởng, triết lí, đạo lí không nằm trong những gì họ theo đuổi. Đây là khi họ hoàn toàn không giữ được đạo lí nữa, mà ngay trong môi trường đạo lí đã phá hoại và muốn tàn hại đạo lí. Dù họ ở môn phái nào, phép tu nào, họ đều là loại không-thể-cứu. 

Đến giai đoạn bất-xá, loại người này sẽ không chịu đựng được các môi trường đạo lí nghiêm khắc, khắc khổ hoặc yêu cầu giữ cấm giới chặt. Họ sẽ tìm cách hủy hoại môi trường này để chuyển sang một môi trường dung dưỡng được lớp vỏ bọc giả tượng của mình.

Khi đó, họ không còn là họ nữa, mà đơn thuần là một "bệnh-tâm-thần-biết-nghĩ-nói".

3. Anh tạm ghi ra vậy, phần trị liệu thì anh vẫn đang tìm cách. Nhưng căn bản là không thể.

Thứ Năm, 17 tháng 11, 2016

Mỗi bước đến Thần

1. Khi xử lý một văn bản, có một tâm lí rất dễ xuất sinh: gọi những vấn đề còn tồn tại trong văn bản và cần làm tốt hơn là Lỗi. Với tâm lí của một nhà trị liệu, anh thấy đó là một hiện tượng rất thú vị.

Trước hết, tâm lí tìm Lỗi giúp người ta có cảm giác làm chủ tình huống và bảo vệ các trạng thái hiện có. Ví dụ em ghen tị với một người, tâm trí em rà soát và cố chỉ ra lỗi của người ấy, người ấy một khi bị em xem là có Lỗi, thì em ko cần lí giải người ta nữa. Đó là lí do các biên tập viên của các nhà sách muốn tiếp thu phần tinh tế cẩn mật của các cuốn sách họ làm đều thất bại. Họ đọc xong, hiểu ra vài điều, và gần như không ghi nhớ nổi chỗ đặc sắc của cuốn sách.

Sau tâm lí tìm Lỗi còn là một loại tâm lí đố kị. Một tư duy lành mạnh ở một mức bao giờ cũng dựa trên tiêu chuẩn của mức ấy mà xét xem điều gì đã ổn, điều gì còn cần khắc phục và làm tốt. Nhưng một tư duy không lành mạnh do luôn thấy mình thua thiệt, thất thế, hay phải tủi hổ và mất đi kiêu hãnh, thường tìm lỗi ở mọi điều xung quanh họ. 

Lại nữa, sau tâm lí tủi hổ ấy lại là một loạt các tâm lí khác. Tham sắc. Háo danh. Trục lợi. Những tâm lí này đều gây ra tổn thương khi một người sống trong cuộc đời mà không thỏa mãn. Mỗi điều không thỏa mãn lại cần một chỗ trút: nếu không trút vào một đối tượng để thỏa mãn, thì sẽ chuyển sang một đối tượng để chỉ trích. Đây là cội nguồn sâu thẳm hơn của tâm lí tìm/vạch Lỗi.

2. Xưa kia, khi đối diện với các văn bản của Thần, người sao chép nó trước hết bắt đầu với tinh thần phụng sự, cống hiến. Để bắt tay vào làm công việc đó, họ phải là người trong môn phái, giữ mình, tắm rửa sạch sẽ, ngày ngày đều cần nhẫn im lặng phụng sự như vậy. Khi có vấn đề, họ trao đổi tìm cách làm sao để mọi việc đúng ý của Thần hơn. Nếu họ không tự quyết được, họ quỳ phụng dưới Thần xin được thêm trí huệ để làm tốt hơn nữa. Chỉ cần được nghe biết lời Thần, họ dám trải qua 81 nạn, nạn nào cũng có thể tiêu hủy tận triệt họ như con đường của Huyền Trang.

Những nhân viên của Thần ngày nay không có đức lí ấy, mà bước vào việc phụng sự các văn bản của Thần với một tâm thái sục sôi bới móc. Họ chỉ thấy lỗi, bằng lòng với những gì mình thấy, và thậm chí không nhận ra ngay vào khoảnh khắc thỏa mãn với điều đó họ bỗng không còn gần cận cũng không còn tiếp thu nổi điều gì Thần Khải. 

Có một hạng  nữa, sau khi dịch văn bản của Thần, do một dạng khác của tâm lí tìm Lỗi, mà khăng khăng dẫu tự họ làm lệch ý của Thần cũng phải giữ nguyên văn bản như vậy.

Hai hạng tìm Lỗi ấy đều không biết: điều mấu chốt là lời của Thần, Trí huệ họ được ban cho và lòng phụng sự thành kính trang nghiêm.

3. Trên mỗi bước đi đến gần dưới chân của Ngài để được phụng sự, con người phải bỏ nhân tâm xuống. Nhưng nếu cũng không có khả năng nhận ra nhân tâm của mình, thì không thể đi được. Họ dậm chân tại chỗ, và có xu hướng tìm Lỗi ở khắp nơi.

Cho nên có người gặp ngũ Trí lập tức thấy Như Lai.

Có người diện kiến, trò chuyện với Như Lai chỉ thấy con người, thậm chí: chỉ thấy mình.

Chủ Nhật, 13 tháng 11, 2016

Lãnh đạm

Xưa có người thương anh lắm, thường lo lắng phẫn nộ hộ anh. Anh bảo anh ta: đừng làm thế, đó là dấu hiệu của nhân gian, chẳng mang lại gì đâu. Anh ta bảo: Nhưng vẫn bất bình lắm. Anh bảo: Đừng, vì thế thì anh xem tôi là kẻ nhỏ mọn tội nghiệp. Tôi có thể chịu khổ để lớn, chứ không cần chút tình nhỏ mọn mà biến thành hèn hạ bạc nhược.

Ở góc độ của anh mà nhìn, thì không nhìn người nào khóc lóc, thương cảm, phẫn nộ, yêu thương cho mình và hộ mình mà cho là họ tốt hay xấu. Từ phương diện của anh, ai có Phật tính là tốt. Ai dám chịu khổ để trả nghiệp là tốt. Ai thật biết sửa mình theo Chân Như Đạo Lí là tốt. Cho nên nếu định đối đãi với anh bằng tình, thì dù là yêu thương giận ghét hay gì đi nữa, xin không cần nói chuyện thêm. Thật ra, anh cũng không nói gì thêm với những người như thế. Nếu có: thì là nói mà không nói.

Nếu em cũng như anh, thì cả nhân gian có cười nói với em, khóc lóc với em, và dù em có cười nói sẻ chia với nhân gian, thì em thật đã đứng ngoài nhân gian rồi. Họ có muốn chạm vào em cũng không chạm nổi. Họ có muốn hãm hại em cũng không làm gì nổi. Họ càng cố can dự vào em, thì càng tự chuốc lấy phiền não. 

Phiền não là từ nghiệp mà ra, ai gây nghiệp gì, cứ để người đó tự chịu. Có loại nghiệp không thành phiền não, mà trực tiếp là tiêu hủy sinh mệnh rồi, như ngồi trong vạc dầu, như nhốt trong hỏa ngục, như rơi xuống sàn chông, như bị phân thây xé xác, đau đớn bồn chồn khổ sở sợ hãi.

Con đường đi qua bóng đêm nhiều khi phải kiên định, vững mạnh, có cắn chặt răng đến bật máu cũng hãy đi. Trên con đường ấy hãy kiêu hãnh. Vì khi ta tin vào sự lớn lao của sinh mệnh, thật tin vào đó, ta sẽ thấy sống cho điều Đúng Lớn là một bầu trời đầy sao, mặt trăng vằng vặc, như thể đi qua những cánh đồng dịu mát có mùi ngọt của hoa lá cỏ cây đang lấp lánh.

Mấy hôm nay anh băn khoăn chưa biết chọn lối nào, thấy có chút day dứt khó chịu. Nhưng nghĩ tới sinh mạng của mình vốn không để dành cho việc chìm đắm, anh thấy có thể mỉm cười lãnh đạm một chút.


Một lúc sau thì đã rất lãnh đạm rồi, trong lòng tinh bạch thanh sắc.

Em có nghe thấy tiếng chuông trong tai không? 

Thấy rồi chứ ^^

Thứ Sáu, 11 tháng 11, 2016

Thơ bạn chia sẻ

Lời Cha

Ai người trong thế gian
Thấy em
Một cô gái
Buồn khóc như buồn nôn?
Đôi vai run run trong chiều sương giá
Lệ đá xanh không ấm bao giờ.

Những nỗi đau sẽ qua
Những nỗi buồn ập tới
Đôi chân lang thang vô định
       Hoang hoải tâm hồn

Con sẽ phải làm gì đây thưa Cha kính yêu?
Bên kia bờ yêu thương, hận thù đang chờ con bước tới
Sự dối trá yếu hèn nơi người con từng yêu thương nhất
Sẽ phải trả giá phần nhiều…

Có ích gì đâu con
Hạnh phúc là cuộc đổi trao thầm lặng
Những khi con hạnh phúc
Ai là người gạt nước mắt quay đi?

Ta muốn nói với con
Một điều chân thành nhất
Đừng bao giờ buông bỏ lòng tự trọng
Để làm kẻ ăn xin
Con sẽ xin ai chút tình đắng đót
Khi người tay trắng với con?

Con yêu của ta
Khi con ra đi nghĩa là con đang về gần trái tim con nhất
Hãy học cách yêu thương khi cay đắng thật nhiều
Hãy trao đi mà không mong nhận lại
Thanh thản bước chân phiêu bồng



Hanoi, ngày 14 tháng Mười Hai năm 2008.

Từ Lý Hồng Đ.

Chủ Nhật, 6 tháng 11, 2016

Đám không-tu

Sớm nay anh gọi ra một điều về chúng. Đó là chúng không-tu.

Đúng, phải mãi đến ngày hôm nay anh mới gọi tên điều ấy được. Họ chỉ kéo dài ngày tháng bằng một niềm tin được gá lắp vào. Không phải là giả-tu. Mà là không-tu. Cái trạng thái không-tu này hẳn đã dằn vặt họ rất ghê gớm. Tự-họ cũng ghê tởm mình, tìm cách trút sự ghê-tởm này sang người khác. Họ dằn vặt cợt nhả chính mình. Họ biết đời tu là tốt. Tự họ không làm nổi. Họ không dám rời đi. Nhưng cũng không thể chân chính tu luyện, không thể chân chính buông bỏ. Họ trút oán hận lên người khác, tự gọi mình là từ bi. Họ trút giả tạo lên người khác, tự gọi mình là chân chính. Họ trút cơn điên lên người khác, tự gọi mình là định lực thâm sâu. Như những cái chuông gang mỗi lần gõ đều tự gọi mình là "ngân vang như vàng ròng". 

Này, những kẻ ném đá lên trời nhằm làm rách vũ trụ, các ngươi có thấy máu trên gương mặt lồi lõm vì đá rơi trúng của mình nói lên điều gì chưa?

Luyện vàng rất khó. Mấy năm ở nhân gian đó, bao nhiêu công sức ấy, chỉ luyện được từng ấy vàng thôi. Từ những người bằng vàng nguyên chất này, bọn anh định biến một góc nhân gian thành vàng. Để góp sức vào quá trình cả vũ trụ hóa vàng.

Bùn đất ấy hả? Đã bị những dòng sông nhấn chìm rồi.

Còn thế giới hoàng kim của chúng ta ở trên rất cao.

Đi lên thôi em.