Phẫn Nộ Đại Tôn Giả

Phẫn Nộ Đại Tôn Giả

Chủ Nhật, 5 tháng 8, 2018

Phù Vân, ngoại truyện 08, Công chúa Liễu Hạnh


Ngoại truyện không phải phần truyện phụ, ngoại truyện là những điểm mấu chốt của duyên nghiệp. Mỗi phần truyện chính giống như một dòng chảy, giống như một mảnh, đấy là một mảnh, một dòng chảy. Nhưng mỗi ngoại truyện giống như một huyệt, một tụ điểm. Chúng ta đang xét trong một cốt truyện thì nhân vật quan trọng hơn, hay là những dòng chảy của câu chuyện, những biến cố quan trọng hơn? Ai cũng có thể có một đáp án cho riêng mình, không thể nói phần nào quan trọng hơn. Nhân vật làm nên biến cố, biến cố làm nên nhân vật, nhân vật ở đấy vì biến cố, biến cố ở đấy vì nhân vật, nói chiều nào cũng đúng cả. Cho nên, ngoại truyện rốt cục là để tạo nên những huyệt, những chỗ hội tụ của những dòng chảy duyên nghiệp mà ở đấy duyên nghiệp sẽ còn phát sinh tiếp, những Thần Sự sẽ còn phát sinh tiếp.

Chúng ta đã từng nói điều này, hãy nói lại một lần nữa, trong Phật giáo có ba qui luật được xem là hàng đầu và được xem là mấu chốt của toàn bộ quá trình tu luyện của con người. Thứ nhất là dòng chảy duyên nghiệp, có duyên có nghiệp, có nghiệp có duyên, hễ có duyên tức có nghiệp, hễ có nghiệp tức có duyên, duyên là nghiệp, nghiệp là duyên. Thứ hai là dòng chảy nhân quả, đây quả là một điều kì lạ, xét đến cùng chúng ta có tin vào nhân quả hay không? Nếu như nói một người vì ngu ngốc mà làm một điều gì đấy, rõ ràng có một người khác cũng làm việc đấy mà không cần phải ngu ngốc, đâu là nhân quả đích thực? Rất khó nói. Nhân quả đích thực, nhà Phật bảo, không phải do điều này qui định điều kia, mà là do duyên nghiệp, chính duyên nghiệp tạo nên điều đấy. Nhưng nhà Đạo bảo không phải là duyên nghiệp, duyên nghiệp không phải là mấu chốt, vấn đề chính là Tính - Mệnh. Tính - Mệnh tạo nên điều đấy, có Tính như thế, có Mệnh như thế, vào Vận như thế, thành Số như thế, đấy gọi là nhân quả. Mỗi nhà có một thuyết khác nhau về nhân quả, nhưng nhân quả là trọng tâm. Cuối cùng, quy luật thứ ba, quan trọng nhất: báo ứng, báo ứng thể hiện trên – dưới. Nếu như duyên nghiệp thể hiện mối quan hệ trong – ngoài, nhất định là phải bộc lộ ra trong với ngoài; thì nhân quả bộc lộ quan hệ trước – sau; và báo ứng bộc lộ quan hệ trên – dưới. Nó là những trật tự của thế gian, trật tự của Tam Giới, bất kể như thế nào cũng nằm ở trong điều đấy cả. Báo ứng thường đến từ Vô Sắc giới, nhân quả thường đến từ Sắc giới, và duyên nghiệp thì nảy sinh trong Dục giới, hễ có duyên nghiệp thì thể nào cũng phải trả qua Dục giới. Một Thần Tiên làm một việc không hay, nhất định sẽ xuất hiện ở trong Dục giới, ở trong nhân gian, không làm sao khác được.

Có một câu chuyện chúng ta gặp rất phổ biến ở trong mọi truyền thuyết, công chúa ở trên Thiên Đình - khi nàng đánh vỡ một chén ngọc và nàng bị giáng xuống làm người thường, điều đấy có nghĩa là gì? Tại sao lại đánh vỡ một chén ngọc? Tại sao Sa Tăng đánh vỡ một chén rượu và cuối cùng lại phải xuống nhân gian, lại phải làm hà bá ở sông, tức là làm ở trong Dục giới? Hễ một duyên nghiệp nào nảy sinh, hễ một nghiệp nào, một tội nào chúng ta gây ra, chúng ta nhất định phải xuất hiện lại dưới dòng chảy duyên nghiệp. Tất cả những sự gắn bó về Dục giới trong nhân gian: yêu thương nhau, ghét nhau, căm hận nhau, dù là gì đi nữa, dù bất kể vấn đề nào do cung Pad gây nên, dù là một điều gì ở trên kia, dù là một điều gì ở dưới này, cứ đúng một tội lỗi ở trên kia, một điều chúng ta gây ra - đánh vỡ một chén ngọc, làm rách một chéo áo, ăn mất một quả đào mà chúng ta không nên ăn, thứ gì có thể làm loạn Thiên Đình? Đấy là Dục giới - con khỉ, dạng như thế, luôn luôn là như thế, không bao giờ thay đổi.

Nhưng có một chiều khác, một tội lỗi được gây ra dùng để xuống thế gian, để thay đổi thế gian, để bảo dưỡng thế gian, một thế gian quá đau khổ. Đánh vỡ chén ngọc, đấy không phải là một tội lỗi để xuống Dục giới, đấy là một tội lỗi để có thể xuống Dục giới, nói thế thì đúng hơn. Đánh vỡ chén ngọc tức là đánh vỡ qui tắc của Thiên Đình, làm ngược lại với qui luật của Thiên Đình. Tại sao như thế? Bởi vì Thiên Đình có báo ứng, Thiên Đình là Vô Sắc giới, Thiên Đình hoạt động theo qui luật báo ứng. Nếu như người không làm thế thì Trời không phạt thế; người không dâng lòng thành lên, không dâng sự thiêng liêng lên thì Trời không giúp; người không có nhân tâm đấy không thể tốt lành thì Trời cũng không liên quan; nhân tâm đấy mà làm chuyện bạc ác thì Trời sẽ trừng phạt. Nguyên tắc là như thế, đấy gọi là báo ứng. Cho nên nếu không hoạt động theo báo ứng mà hoạt động theo duyên nghiệp, lúc đấy không biết đâu mà lần, lại phải xuống Dục giới.

Khi Liễu Hạnh - Quỳnh Nga công chúa đánh vỡ chén ngọc để xuống nhân gian, đấy chính là bắt đầu một duyên nghiệp với nhân gian. Đánh vỡ qui tắc của Thiên Đình, vượt ra khỏi báo ứng, Trời không phạt con người nữa mà Trời lại cứu con người, cho nên nàng xuống thẳng Dục giới.

Người ta đồn về thuyết tam sinh tam thế. Hãy nói về lần đầu tiên nàng giáng thế. Nàng giáng thế lần đầu trong dòng họ Phạm, nàng sinh ra trong một gia đình không tầm thường chút nào, thậm chí không bình thường chút nào. Chúng ta đừng tưởng Liễu Hạnh sinh ra trong một gia đình bình thường, có Thái ông, Thái bà. Chúng ta có hai cách hiểu, thái ông, thái lão – tức là rất già, một ông rất già và một bà rất già. Một cốt truyện rất phổ biến đúng không? Cũng có thể chúng ta hiểu là ông Thái và bà Thái, họ Thái chăng? Ít nhất là nàng đã giáng thế, gia đình này không bình thường, cái tên đấy chứng tỏ họ là một gia đình tu Tiên. Một gia đình tu Tiên nọ, vào một tuổi nọ, một Linh Khí ở trên Trời quá thanh sạch - do đánh vỡ chén ngọc mà đã giáng xuống vào bụng một người đàn bà, người đàn bà này đã rất có tuổi. Chúng ta gặp được cốt này trong truyện của Abraham, khi người phụ nữ già có con và đứa con này sẽ thay đổi thế gian, đứa con này sẽ thống trị thế gian, con cháu của nó sẽ thay đổi thế gian.

Khi Liễu Hạnh giáng thế lần đầu trong gia đình Thái ông - Thái bà, người ta đồn là nàng mang họ Phạm. Thái ông - Thái bà bản chất là người tu Tiên, nhưng bởi vì họ chưa thoát, họ vẫn còn quanh quẩn trong Dục giới để làm một số việc, làm một số duyên nghiệp, cho nên điều cuối cùng mà họ phải làm là mang thai. Thực ra họ không phải mang họ Phạm, họ Phạm có nghĩa đây là phạm nhân, đây là Trời đày xuống. Về sau người ta lấy Mẫu làm bà cô Tổ của dòng họ Phạm, không nhất thiết thực sự là dòng họ Phạm. Giống như khi người ta hỏi Mẫu - một ngày nọ Mẫu lớn lên, Liễu Hạnh lớn lên, lúc đấy nàng đã vô cùng xinh đẹp, nàng nhỏ nhắn, ánh mắt sáng như sao, mái tóc đen như gỗ mun, lúc này nàng bước trên vùng núi đấy, bước chân của nàng đến đâu nơi đấy đều nở hoa, nàng đến những vùng đất cằn cỗi nơi đấy hồi sinh, nàng thò tay xuống dưới nước bỗng nhiên có cá nhảy, sen đã tàn, nàng đi qua liền nở, nàng đi qua những người mệt mỏi, người đấy được hồi phục, khi bão giông gặp nàng, trời lại quang mây tạnh, nơi nào đang hạn hán lại có mưa rơi, nàng giống như một điềm báo của sự hồi sinh - Người ta hỏi nàng: “sao nàng lại ở đây?”, “sao em lại ở đây?”, “sao con lại ở đây?”, “sao cô lại ở đây?”, “sao chị lại ở đây?”, nàng chỉ trả lời là: “Phạm”. Một lời như thế, nghĩa là do phạm mà xuống. Có người lý giải chữ Phạm ấy là từ chữ Phạm-Thiên (Brahma) mà ra, không đúng như vậy. Người ta tưởng nàng họ Phạm nên gọi là Phạm nữ nhân - tức là người con gái họ Phạm, người gọi là Phạm thị - tức là cô họ Phạm, và cứ dần dần người ta coi nàng là họ Phạm. Họ Phạm chỉ có nghĩa là vì vi phạm một lỗi mà ở đây, vì chạm phải luật Trời mà ở đây. Bởi vì nàng đã thệ nguyện độ nhân cho nên nàng đã hết sức thống khổ. Tương truyền câu chuyện là nàng có yêu một người tên là Đào Lang, Đào Lang nghĩa là gì? Đào Lang không phải tên quả đào, mà là lang quân họ Đào, người ta nghe người ta tưởng là thế, đấy là điều mà nàng nói với người ta. Nhưng chữ “Đào” mà nàng nói đến là chỉ một người đàn ông, đúng là chỉ một người đàn ông. Nàng đi tìm người đã hứa với nàng sẽ ở nhân gian mà làm điều đấy, sẽ cùng ở nhân gian mà thay đổi chúng sinh.

Vào một ngày nọ, Quỳnh Nga công chúa vô cùng xinh đẹp ở trong cung điện, gọi là cung điện Quỳnh, Quỳnh điện. Lúc đấy nàng đang nhìn xuống dưới nhân gian, bởi vì nàng thích thú nhân gian vô cùng, bởi vì người con gái út mang theo những năng lực thật diệu kì. Nàng nhìn xuống dưới nhân gian, như một nữ thần của Thiên Đình, nàng vô cùng quan tâm đến chuyện là dưới nhân gian mọi người phụng sự Thiên Đình ra sao, và nàng vô cùng phẫn nộ với chuyện ở trong nhân gian không còn Đạo lí, không còn tôn Thần, bắt đầu tín các ngoại Thần, bắt đầu thay đổi những thái độ, bắt đầu trục trặc, bắt đầu bấn loạn. Nàng vô cùng tức giận và nàng liền nghĩ ra một cách rất dữ dội để trả thù nhân gian, đấy là cử những Ôn Thần xuống, yêu cầu Ôn Thần xuống nhân gian mà tạo ra bệnh dịch cho loài người, khiến cho loài người phải tôn thờ.

Trong lúc nàng đang nghĩ không biết dùng Ôn Thần nào, nàng liền từ trên Thiên Đình - bởi vì Thiên Đình là chí cao trong Tiên Giới - nàng phát thiệp mời các Ôn Thần đến nơi. Trong đấy có một người rõ ràng không phải là Ôn Thần nhận được thiệp của nàng. Người đấy đến, trông mặt mày rất hung dữ, hai mắt sáng như sao, thân mắt lúc xanh lúc đỏ. Đây là một trong những người đến sớm đầu tiên, một loạt các Ôn Thần trước nàng đều không đồng ý bởi vì họ quá tàn nhẫn, họ quá tàn ác, mục đích của họ chỉ là để gây họa, không phải để phụng Thần, không phải để phụng sự Thiên Đình. Và khi họ vừa đến đã yêu cầu một loạt yêu sách, trừng trị xong con người phải cho họ một địa vị, cho họ một ngọn núi thiêng, cho họ một đảo bồng lai, nên nàng đều không ưa thích.

Mãi đến lúc một người – một vị thần nửa xanh nửa đỏ đến. Nàng hỏi là: “Ngươi có thể làm gì? Sau đấy ngươi muốn gì trong khi làm việc đấy cho Thiên Đình?”. Vị ấy nói là: “Ta không muốn gì, ta chỉ muốn nàng.” Quỳnh Nga công chúa thấy điều này hết sức kì lạ, nàng liền mỉm cười nói: “Ngươi rốt cục là muốn gì? Ta đang nói ngươi phụng sự cho Thiên Đình, nếu ngươi muốn ta sẽ cho ngươi một núi bồng lai, cho ngươi một Tiên Đình, cho ngươi một nơi để thờ phụng riêng ngươi trong nhân gian, cho người nhân gian phải thờ phụng ngươi. Ngươi muốn điều gì cứ nói với ta.” Bởi vì đối với Thiên Đình, được thờ phụng là một lẽ cao quí, có một ngọn núi bồng lai ở trong Tiên Giới là một lẽ cao quí, đấy là Tiên nhân rồi, đã là Sơn Tiên rồi. Có một điểm ở trong Thiên Đình sẽ trở thành quan của Thiên Đình, vinh hoa không kể hết, như thế cũng được coi là trong Thiên Giới vô cùng oai phong, rất có quyền lực, có thể giúp đỡ cho Môn Phái của mình, không biết đâu mà kể xiết. Đối với trong Thiên Đình thì trong giới đấy vẫn có quyền lực như thế, vẫn có uy lực như thế, địa vị là vẫn phân biệt như thế.

Lúc đấy vị Thần kia vẫn lắc đầu: “Ta thật sự chỉ cần nàng”, xong rồi Quỳnh Nga công chúa mới hỏi: “Rốt cục ngươi cần ta như thế nào?” Vị Thần liền vuốt râu mỉm cười: “Ta cần nàng khi mà ta xuống nhân gian thì nàng cũng phải xuống nhân gian, nàng chỉ cần đi tìm ta thôi, tìm thấy ta thì ta cho nàng trở về.” Rồi công chúa rất ngạc nhiên, liền hỏi là: “Tại sao ta phải tìm ngươi? Tại sao ngươi không thể tự làm những chuyện này một mình? Không phải ngươi đang gặp ta đây sao, còn phải gặp ta làm điều gì nữa?” Điều này nghe thì giống như con người nói với nhau, nhưng thực chất không phải. Ở trong lời nói của Quỳnh Nga công chúa là có Đạo lí thế này: “Tại sao ta phải tìm ngươi?”- bởi vì nàng là địa vị trên; “Tại sao ngươi không gặp ta ở đây mà lại cần phải gặp ta ở dưới?”- ý nàng nói là nàng chỉ phục vụ báo ứng, không phục vụ duyên nghiệp. Tại sao phải gặp lại Vị Thần xanh đỏ? Vị Thần xanh đỏ là tạo ra duyên nghiệp ở trong nhân gian, mà nhờ thế lẽ báo ứng của Thiên Đình được thực hiện, chỉ là như thế thôi, trong lời của nàng có huyền cơ như vậy.

Dĩ nhiên Vị Thần xanh đỏ vừa nghe nàng liền lập tức đã hiểu nàng rồi, Vị Thần xanh đỏ mới hỏi nàng: “Nếu như nàng muốn thay đổi con người, sao nàng không tự làm, lại sai phái Ôn Thần làm? Không phải trong lúc đấy nàng đã biến thành một Ôn Thần đấy sao? Bởi vì nàng là chủ sự.” Đạo lí của lời Vị Thần xanh đỏ là gì? Là bởi vì ý niệm này xuất phát từ một ý niệm của Quỳnh Nga công chúa mà thành, một ý niệm của Quỳnh Nga công chúa muốn dùng Ôn Thần mà hành sự thì Quỳnh Nga công chúa chính là Ôn Thần. Cho nên bởi vì nàng đã muốn lấy Ôn Thần làm tay chân của nàng mà thực hiện ý định đấy, vậy thì hình ảnh của Thiên Đình sẽ là gì? Chính là Ôn Thần, cho nên Thiên Đình vì ý định của nàng lại có thể trở nên là mối họa đối với con người. Một khi đã bắt con người sợ Thiên Đình thì nghĩ thế nào đây? Con người sẽ coi Thiên Đình là một mối họa, đã thờ cúng một mối họa tất sẽ sinh ra mê tín,  không còn là tự nguyện nữa, ý của Vị Thần xanh đỏ huyền cơ là như vậy, không nên tạo nên nỗi sợ đấy.

Lúc đấy Quỳnh Nga công chúa, bởi vì nàng là người vô cùng thông minh, là người con gái út, là người kế thừa trí tuệ của Thiên Đình, nàng nghe đến đấy đã cảm thấy vấn đề rất lớn rồi. Nàng liền trầm tư suy nghĩ, suy nghĩ mãi, lúc đấy mới hỏi Vị Thần xanh đỏ: “Hay thay, nghiệp lực con người đã quá lớn. Trời giáng họa có gì sai trái? Lại nữa, Ta xuống kia làm sao được?” Vị Thần xanh đỏ nói: “Dễ lắm! Chỉ cần nàng đánh vỡ chén ngọc của Cha nàng, mỗi chén ngọc của Cha nàng ở đấy đều tượng trưng cho một mối liên kết với chư Thần, chỉ cần nàng đánh vỡ một mối liên kết thì cái nghiệp đấy không dồn vào nàng chẳng lẽ dồn vào Cha nàng? Chẳng lẽ Cha nàng phải xuống mà trả duyên nghiệp? Nhất định nàng sẽ phải trả, bởi vì Cha nàng là muốn khiến cho trong Tiên Giới, trong nhân gian, tất cả đều phải tôn trọng duyên nghiệp, tất cả đều phải biết rằng xúc phạm đến Thiên Đình dẫu là người nhà Trời cũng phải trả. Bởi vì Cha nàng tự là người đặt ra những điều đấy, cho nên Cha nàng sẽ phải đảm bảo những điều đấy.” Quỳnh Nga công chúa gật đầu nói: “Ta có thể thử.”

Rồi nàng suy nghĩ một hồi lại hỏi: “Ngươi cũng xuống, ta cũng xuống. Tại sao ngươi không hành sự ở phía ngươi, ta không hành sự ở phía ta, mà tại sao ta còn phải cần đến ngươi nữa? Tại sao ta còn phải tìm đến ngươi nữa?” Vị Thần xanh đỏ mỉm cười nói là: “Nếu như không có ta gây ra bệnh dịch thì làm sao nàng có thể chữa được bệnh? Nếu không có ta gây ra hạn hán thì nàng làm sao có thể sửa được hạn hán? Nàng ở đâu ta ở đấy, ta ở đâu nàng ở đấy, nhưng chỉ cần nàng muốn tìm ta nàng sẽ thấy.” – “Làm sao để ta nhớ được ngươi?”, Vị Thần xanh đỏ liền nói: “Đơn giản lắm!
Đơn giản lắm! Cứ gọi ta là Đào Lang.” Thực ra chữ Đào Lang có nghĩa là “chồng yêu”, Đào ở trong chữ “đào hoa”,  ý chỉ là người có rất nhiều vợ.

Lúc đấy khi Quỳnh Nga công chúa giáng thế thì ở dưới gót chân có ghi hai chữ “Đào Lang”, nàng đã định sẵn thế rồi, đánh vỡ cái chén đấy, ghi hai chữ “Đào Lang”. Cho nên lúc nàng đi khắp nhân gian, nàng đi đến đâu ban phép đến đấy, nhưng nàng chỉ cần hỏi một người – Đào Lang, “Đào Lang ở đâu?”, chính vì thế mà nhiều người cho rằng nàng là nữ thần bảo vệ hạnh phúc gia đình, thực ra không phải vậy. Trong các chư Thần rất hiếm có người mang họ: La Bình công chúa, Đông Cuông thánh mẫu không hề mang họ, Mẫu Thượng Ngàn không mang họ, Thiên Y A Na không mang họ, Tản Viên Sơn Thánh không đích thực là mang họ cho dù về sau gán cho Ngài là họ Nguyễn. Mỗi người đều giống như có một họ, chẳng ai có họ cả. Chử Đạo Tổ, có nghĩa là vị Đạo Tổ ở làng cát, nó chỉ có nghĩa thế thôi, không ai có họ cả. Nhưng bởi vì nàng mang họ Phạm, do người ta tưởng nhầm, nên người ta tôn nàng lên thành nữ thần của dòng họ, nữ thần của gia đình. Và cũng chính vì thế, sau khi thành Thần nàng lại phải độ cho họ Phạm, vì họ ấy đã thờ nàng rồi.

Nàng vẫn đang chờ tìm một người, khi nào nàng kết hôn được với Đào Lang đúng như duyên nghiệp đấy đã hoàn thành, đấy là duyên nghiệp tối hậu của nàng thì nàng mới trở lại Thiên Đình. Còn ngày nào mà nàng chưa gặp được Đào Lang thì nàng vẫn còn lang thang ở hạ giới. Vị Thần xanh đỏ rốt cục đã tạo nên một thứ duyên nghiệp, một thứ duyên nghiệp sao cho nàng cứ đi tìm mãi mà không thành, một thứ duyên nghiệp của vợ chồng. Để có thứ duyên nghiệp đấy không phải chỉ khắc một chữ lên chân mà xong, lúc đấy Vị Thần xanh đỏ đã dùng Âm Dương giao khí phối kết với Quỳnh Nga công chúa mà tạo nên một sinh mệnh, nhờ sinh mệnh này tồn tại mới trở thành tên ở trên chân nàng, cũng phải có giao kết Âm Dương như vậy mới khiến cho nàng với Vị Thần xanh đỏ ở trong nhân gian mà tìm nhau, đấy là mấu chốt. Cho nên nàng cứ suốt đời đi tìm Vị Thần xanh đỏ, suốt đời đau đáu vì Vị Thần xanh đỏ. Khi nàng thành Thần rồi, nàng vẫn ôm một mối hận với Tiên Môn chính là vì thế.

Lại kể chuyện xưa, Thái ông với Thái bà, thực ra tất nhiên không phải ai xa lạ mà chính là vợ chồng của Vị Thần xanh đỏ, nên đã nói họ tu Tiên. Người này đích thực là ai - Thái ông mà chúng ta nói đến đây, người mà nàng cứ đi tìm mãi, người này chính là Dương Tiên. Nhưng nàng không biết được điều đấy, bởi vì duyên nghiệp bản chất là gì? Duyên nghiệp bản chất là phải mập mờ, chúng ta không thấy rõ duyên nghiệp. Ở trong duyên nghiệp chúng ta còn kết hôn với cả kẻ thù, kết hôn với cả tà ma, kết hôn với cả yêu vật. Thần Tiên cũng có thể lấy yêu vật mà thành đôi, kết đôi kết lứa, chuyện này không có gì đáng ngạc nhiên. Có thể là trước có một giao hẹn Âm Dương giao khí, chính vì Âm Dương giao khí mà trở thành Cha con, cho dù vốn dĩ không phải là Cha con, ở trong nhân gian chính là mang duyên nghiệp như thế. Nhưng chúng ta có thể nói Dương Tiên là Vị Thần xanh đỏ không? Cũng không nhất định như thế, bởi vì đấy chỉ là một hình hài của ông, có thể đấy chỉ là một Chân Thần của ông. Bởi vì khi đã xuống nhân gian, khi thật sự xuống nhân gian, đi theo bước Nguyệt Quang mà xuống nhân gian, ông đã buộc phải phân làm hai phần. Hai phần này mỗi phần một duyên nghiệp: phần nghiệp ở trong Ý của ông - phần Âm trong Pháp lí của ông buộc phải gánh họa, phần Pháp thuật của ông - tức là phần Dương của ông cũng buộc phải gánh họa. Hai phần Âm Dương này khi đã xuống nhân gian rồi nhất định sẽ tìm gặp nhau, bằng được sẽ tìm gặp nhau.

Tuổi của họ là như thế nào? Bởi vì Vị Thần xanh đỏ có một xuất xứ vô cùng kì dị, ông ta không chỉ là một người, ông ta là nhiều người, ông ta xuất hiện ở cùng nhiều thời không khác nhau, cho nên ông ta đã giáng thế từ rất lâu, ông ta giáng thế từ lúc Nguyệt Quang xuất hiện. Khi ông ta giáng thế xong thì ông ta xuyên thời không trở về một giai đoạn khác, bởi vì ông đã tu đến tầng Như Lai rồi. Chúng ta đã biết là Vị Thần xanh đỏ ở tầng Như Lai, công lực là ở tầng Đại Bồ Tát, cho nên khi giáng thế, đầu tiên là ông quay trở về một thời gian trước khi có Tiên Môn, xong cứ như thế, cứ như thế, dần dần mà hình thành Âm Dương Tiên – là những người tu những Môn gần như liên quan đến Hỏa lại không liên quan đến Hỏa, liên quan đến Bạch Long mà lại không liên quan đến Bạch Long, có thể nói là ở trong Bạch Long Môn, có thể nói là ở trong Hỏa Môn, nhưng cũng không phải. Họ tự khai tông lập phái riêng, trông cũng gần giống nhưng lại không phải, tất nhiên ở trong đấy còn có duyên nghiệp, còn có sự gặp gỡ với Tiên Môn, còn có sự trao truyền các bộ Công Pháp, nhưng đấy là chuyện vô cùng phức tạp và sâu xa khác.

Chúng ta quay trở lại, đôi vợ chồng đã đón Liễu Hạnh là vợ chồng của Dương Tiên. Ngay khi ra đời, nhìn thấy chữ Đào Lang ở dưới gót chân của Quỳnh Nga công chúa, của Liễu Hạnh, lúc đấy điều đầu tiên mà Dương Tiên làm đó là “Chúng ta đi.” Nói xong Dương Tiên liền đặt đứa trẻ, sau khi tẩm cho nó một số loại kì hoa dị thảo, giúp cho sinh mạng của nó dài lâu, không cần phải ăn uống trong một thời gian dài, thả vào dòng sông rồi cứ thế trôi. Cho nên việc làm đầu tiên của Mẫu Liễu khi giáng sinh là gì? Đi ngược theo dòng sông, cứ đi ngược theo dòng sông. Nơi đầu tiên mà bà dừng lại, đấy là một nơi rất đặc biệt, ngày nay chúng ta gọi là Phủ Dày, có thể có người gọi là Phủ Vân Cát. Nhưng ở đấy có một điểm đặc biệt, bởi vì kì hoa dị thảo mà Dương Tiên phủ vào người nàng cho nên nàng tỏa ra mùi hương rất kì lạ. Mùi hương này lan đến đâu thì người ta khỏi bệnh đến đấy, cho nên thôn mà nàng giáng thế được coi là Tiên Hương, mùi của người Tiên lan đến đâu nơi đấy trở nên khỏe mạnh, một mùi thấm nhập sâu vào trong tâm cảm. Chúng ta không thể gọi nó là mùi thơm thông thường, đấy là một mùi có thể khiến cho người ta được chữa lành, rất đặc biệt, không thể định nghĩa bằng nhân gian được, không thể định nghĩa bằng các từ “thơm” hoặc “sực nức” hoặc bất cứ từ nào của Dục giới, không một từ nào trong Dục giới diễn tả được khi nàng xuất hiện như thế.

Khi nàng lớn lên, nàng chỉ xưng là nàng họ Phạm, rồi nàng cứ đi tìm như thế, đi đâu cũng hỏi “Đào Lang của ta ở đâu?”, “Đào Lang của ta ở đâu?” Người ta thấy nàng gần như điên loạn, cho dù nàng đầy phép thuật, cho dù nàng vô cùng xinh đẹp, không ai dám động đến nàng. Đến lúc có những truyền thuyết về cô gái Đèo Ngang, bởi vì nàng rất xinh đẹp cho nên thái tử họ Lê nào đấy – như người ta nói - tìm đến nàng, trêu chọc nàng xong rồi bị nàng làm cho trở nên điên loạn, rồi người đấy trở về, rất nhiều những chuyện tương tự như thế xảy ra, rất nhiều những huyền thoại như thế về nàng xảy ra. Tại sao như thế? Bởi vì nàng điên loạn, nhưng nàng lại có quyền năng, nàng không biết đâu là đâu, nàng ở trong một trạng thái gần giống như khí công thái, nàng thấy những điều ở không gian khác, nàng gặp các chư Thần, nàng nói chuyện một mình. Nhân gian mà nhìn nàng thì nghĩ thế nào? Nghĩ là người này bị điên rồi, nói chuyện với cây cỏ, nói chuyện với trời đất, lúc nào cũng đang huyên thuyên một điều gì đấy, lúc nào cũng đang thảng thốt, “Ta phải đi tìm Đào Lang”, “Ta phải đi tìm Đào Lang”, “Ta vốn đã gặp Đào Lang, Đào Lang sao lại bỏ ta?”

Nàng cứ như thế, cho đến lúc khoảng hai mươi tuổi, nàng cứ lang thang ở sóng gió như thế cho đến lúc nàng hai mươi tuổi, nàng gặp một nhân vật vô cùng quan trọng. Nàng gặp Âm Tiên. Khi nàng gặp Âm Tiên thì điều đầu tiên nàng nhìn thấy ở Âm Tiên là có một điều gì đấy mà nàng coi như là Ôn Thần, nàng cảm thấy vô cùng căm ghét người này. Nàng không hiểu một nỗi căm ghét từ sâu thẳm của nàng, tại sao căm ghét như thế? Là bởi vì khi ở trên Thiên Đình, phần tiếp xúc với nàng là phần Dương của Vị Thần xanh đỏ và phần không tiếp xúc với nàng là phần Âm của Vị Thần xanh đỏ. Phần Âm của Vị Thần xanh đỏ thì viễn li với nàng bởi vì cao quí hơn, phần Dương của Vị Thần xanh đỏ thì lại là một phần biểu lộ ra để tiếp xúc với nàng cho nên gần gũi hơn. Nên khi nàng giáng thế, nàng sẽ giáng thế vào chỗ mà Dương Tiên ở, còn khi nàng cảm thấy căm ghét nhất chính là lúc Âm Tiên xuất hiện, bởi vì Pháp lí của nàng là xa rời. Cũng giống như các vị phụng sự của một vị Thần vậy, người phụng sự này không nhất thiết là hoàn toàn đồng hợp với vị Thần này, mà chỉ tiếp xúc với phần Dương của vị Thần này thôi, cho nên gắn bó về phần Dương mà viễn li về phần Âm, luôn luôn căm ghét vị Thần này từ một khía cạnh nhưng luôn luôn yêu thương vị Thần này từ một khía cạnh khác, đấy là một cảm giác rất mâu thuẫn. Luôn luôn cảm thấy áp lực và sợ hãi nhưng luôn luôn cảm thấy yêu thương và muốn gần, đấy là một động lực ở bên trong. Luôn luôn xấu hổ trước phần Âm, nhưng luôn luôn tự hào trước phần Dương. Một cảm xúc kép rất mâu thuẫn.

Khi nàng gặp Âm Tiên, đấy là ở một nơi rất xa xôi mà chúng ta ngày nay gọi là thôn Ý Yên, một vùng được gọi là Ý Yên ở Nam Định. Ý Yên tức là đến nơi đây đã phải định rồi, mọi thứ phải lắng xuống rồi. Năm ấy nàng hai mươi tuổi, đôi mươi, đẹp đẽ vô cùng, đối với mọi người là điên loạn, là quyền năng, là gì cũng được. Khi gặp được Âm Tiên, nàng cảm giác vô cùng chối, vô cùng đau khổ, vô cùng ghét bỏ. Lúc đấy Âm Tiên đứng trên một ngọn đồi, một cái doi đất nhỏ ở giữa sông dâng lên, chúng ta có thể gọi là đồi. Ánh mắt Âm Tiên sáng quắc, thân hình mảnh khảnh, giọng nói vang như chuông ngân, khiến cho nàng vô cùng khó chịu. Nàng chỉ vào Âm Tiên nói: “Ta đã làm gì ngươi vậy? Mà ngươi đã làm gì ta vậy?” Âm Tiên mỉm cười nói: “Ta không làm gì ngươi, ngươi cũng không làm gì ta cả. Ngươi với ta vô duyên vô phận, vốn không liên kết gì với nhau, bất tất phải lên tiếng.” Rồi lúc đấy nàng vẫn không chịu được, nàng đi quanh ngọn đồi, dân chúng cũng theo đấy kéo đến, thấy nàng cứ đi quanh, đi quanh ngọn đồi, lại thấy một người ở trên ngọn đồi kia. Dân chúng lại cho rằng đây là một cặp thầy trò, có người thì coi là thầy trò, có người thì coi là dâm loạn, người ta xì xào tiếng ra tiếng vào càng làm nàng điên tiết. Nàng phất tay, mười người lăn ra gào thét, tất cả dân chúng sợ hãi bỏ đi, ai cũng vô cùng sợ hãi. Rồi lúc đấy mọi người trong lòng đã sợ hãi thì sinh ra mê tín, đấy chính là điều khiến cho về sau người ta luôn luôn có một nỗi sợ hãi vào nàng.

Âm Tiên nhìn, cười nhạt nói là: “Ngươi đừng dùng máu làm ô uế chuyện tu luyện của ta, ta ở đây để đón một người.” Rồi lúc đấy nàng vẫn không chịu đựng được, nàng nói là: “Ta không chịu được ngươi, ngươi nhất định phải rời đi! Ta không thấy ngươi thì thôi, thấy ngươi nhất định ta phải giết!” Lúc đấy nàng gần như hung cuồng, nàng chạy lên trên ngọn đồi, càng chạy lên, bước chân của nàng gần như bên dưới có bông sen bốc lửa. Lúc đấy Âm Tiên lạnh lùng cười nhạt nói: “Ai đã truyền công cho ngươi từ bé vậy?” Nàng nói là: “Ta không biết. Nhưng ngươi là ai vậy? Ta vô cùng khó chịu với ngươi!” Rồi Âm Tiên bay xuống như một ngọn gió, thân hình lơ lửng trong không trung, Âm Tiên chạm vào đầu nàng rồi nói: “Người này truyền cho ngươi Linh Hỏa Đại Liên Công. Người này có thể vì ngươi mà làm điều này, có thể thật là thân thế không nhỏ, tại sao ngươi nói là không biết? Ngươi ở trong Tiên Môn mà ra, tại sao lại chối bỏ Tiên Môn?” Lúc đấy Quỳnh Nga công chúa càng trở nên điên loạn, nàng hét lên: “Ta không biết ai cả! Ta không biết ngươi là ai! Ta không biết cha ta là ai, mẹ ta là ai, ta chỉ biết ta sống giữa trời đất, sống cùng trời đất, ta nhất định phải sống cùng trời đất. Còn ngươi, tại sao ta gặp ngươi lại ghét bỏ đến vậy, ngươi là tà ma hay là yêu quái?” Bàn tay của Âm Tiên càng siết chặt vào đầu nàng, nàng cảm thấy đau đớn vô cùng, rồi trên trán nàng nhỏ ra một giọt máu, chảy xuống, máu chảy đến đâu thì da thịt nàng như bốc lửa đến đấy, rồi một lúc sau bàn tay của Âm Tiên ấn chặt vào, Âm Tiên nói là: “Ngươi bất tất phải hỗn láo với ta, ta dường như đã biết ngươi là ai. Nhưng ngươi chỉ vì một niệm muốn vinh danh, chỉ vì một niệm muốn dương danh, ngươi đã ở đây, vì một niệm muốn dương danh, ngươi đã phạm sai lầm, vì một niệm muốn dương danh, ngươi trở nên điên loạn, vì một niệm muốn dương danh, ngươi không quay trở về được. Ngươi vì danh mà ở đây, thì ngươi tất gì ở đây nữa, lụi tàn đi cho ta cũng được.” Nói xong Âm Tiên ấn bàn tay xuống thật mạnh, cái cổ của nàng kêu “rắc” một cái, dường như đã gãy cổ, nhưng nàng không chết, nàng lại ấn bàn tay vào đầu nàng, cổ nàng lại chỉnh lại như cũ, nàng lại đứng lên nhìn Âm Tiên nói: “Ta không chết được, nhưng ngươi nhất định phải chết, ta nhất định phải giết ngươi!” Nói xong nàng lao đến, trong bàn tay nàng xuất hiện một tia lửa màu đỏ, rồi tia lửa này càng nhân rộng ra giống như một mũi dao đâm thẳng vào người Âm Tiên, nhưng vừa chạm đến gần thân Âm Tiên thì mũi dao này biến mất, nàng lại điên loạn đâm vào, phía tay kia của nàng cũng xuất hiện một lưỡi dao tương tự, nàng lại đâm đến Âm Tiên, nhưng Âm Tiên cũng chỉ đứng đấy, rồi nàng cứ điên loạn đâm liên tục vào người Âm Tiên cho đến lúc nàng giống như một bóng máu, tất cả thân thể nàng cháy bừng như một ngọn lửa, nàng lao vào người Âm Tiên và lụi tắt. Nơi mà tro tàn của nàng rơi xuống mọc lên một bông sen, bông sen ấy cứ nở, nở, nở ra, lớn lên, phát ra ánh thất tinh. Âm Tiên nhìn bông sen đấy thở dài rồi nói một mình: “Ngươi nhất định lại tái sinh, ngươi tái sinh lần thứ hai sẽ có lí trí hơn, lúc đấy ngươi sẽ biết phải tìm ai”, nói xong Âm Tiên rời đi mất. Rồi chỉ vài ngày sau, ở làng bên cạnh lại có một đứa trẻ được ra đời, lần này ở trên chân nó cũng có một chữ: “Đào Lang”.

Vòng quay của một chư Thần là như thế, họ không nhất định sống, không nhất định chết, sống chết không có nghĩa với họ, dù ở trong nơi nào, Dục giới, Sắc giới, Vô Sắc giới, họ đều có vòng quay sinh mệnh của mình, không ai cản được họ sống, bởi vì đối với nhân gian, họ là bất tử, bất diệt, không ai trừ tuyệt được. Tất nhiên Âm Tiên cũng không có ý trừ tuyệt nàng, nhưng chính là muốn nàng tái sinh một lần nữa trong một lí trí. Tại sao Âm Tiên lại muốn nàng tái sinh, tại sao Âm Tiên lại cần phải triệt tiêu năng lực của nàng một lần nữa? Là để một là nàng không mang nợ với Hỏa Môn mà lại phụ bạc Hỏa Môn, hai là nàng có thể sinh ra trong một gia đình mà trong đấy nàng có một lí trí, nhờ lí trí này nàng sẽ không phủ nhận sự tồn tại đích thực của mình, nàng sẽ không phủ nhận sự tồn tại của nhân gian, nàng bắt đầu có thể giao tiếp với nhân gian.

Lần thứ hai này nàng lại giáng sinh một lần nữa ở chính ngay phủ Tiên Hương, lần này mùi thơm của nàng bay xa muôn dặm, một lần nữa người ta lại biết đến nàng, và khi người ta nhìn thấy chữ “Đào Lang” dưới chân, người ta nghĩ ngay đến người đàn bà luôn luôn gọi “Đào Lang, Đào Lang của ta đâu?”, và lần này người ta biết rằng nàng là Thần Tiên từ trên trời xuống.

Muốn sống bình thường thì phải quên, nàng càng trở nên bình thường thì nàng càng phải quên nhiều. Lần thứ hai tái sinh ở nhân gian, với tất cả những duyên nghiệp mà nàng đã từng chữa trị cho nhân gian, nàng mê mờ hơn một mức, nàng không còn nhớ được tất cả những chuyện trước đấy, nàng không nghe thấy được trời nói, không nghe thấy được đất nói, không nghe được tiếng từ không gian khác, nàng chỉ còn một chút quyền năng, một chút quyền năng có thể kiến tạo mọi thứ. Nàng lớn lên cũng rất xinh đẹp, và nàng cứ âm thầm có một tiếng gọi trong đầu: “Đào Lang”. Nàng biết ở chân nàng có chữ “Đào Lang”, nàng thường nói: “Ta sống để chờ Đào Lang.” Cho nên trong lúc sống để chờ Đào Lang, nàng làm gì bây giờ? Nàng không lấy chồng được. Cha mẹ nàng sẽ mất rất sớm, bởi vì khi nàng xuất hiện ở đấy, một thời gian sau họ đã thác rồi. Việc nàng có thể làm, bởi vì đàn ông rất mê nàng, cho nên nàng nói gì trai làng đều nghe cả, nàng đi đến đâu đều có người phụng sự, các Đền Chùa Miếu Mạo, tăng nhân đều mê đắm nàng, nàng có một vẻ đẹp gần như không ai có thể từ chối được, ở nàng có một điều gì đấy, chữ “Đào Lang” có một điều gì đấy giống như tự nó có sức hút, tự nó vô cùng quyền lực.

Thế là nàng liền bắt đầu đi dựng làng lập xóm, nàng đi sửa đình sửa chùa, nàng lập nên rất nhiều nơi nguy nga, rất nhiều nơi thánh khiết, nàng đến đâu thì nơi đấy được tôn tạo lại một lần nữa. Nàng làm những sự vụ cho Thần, và nàng càng làm, tất cả những vùng đất nàng đi qua càng tịnh đạt, dân chúng thờ phụng, tiếng lành đồn xa, thậm chí tiếng của nàng đã đến tận nơi phồn hoa đô thị, lúc đấy nàng trở nên một mối họa. Người ta bắt đầu đồn đại về nàng như một người phụ nữ đã lãnh đạo hết thảy lực lượng tôn giáo, lực lượng quân sự, những lực lượng tinh hoa của nông thôn, giống như một thủ lĩnh mới, tập hợp trong tay rất nhiều quyền lực, dân chúng không nghe triều đình nữa, nhắc đến tên nàng ai cũng sợ hãi. Bản thân nàng dường như có một điều gì đấy, một điều gì nàng cố quên nhưng vẫn xuất hiện: bản chất của một thủ lĩnh, bản chất của một người có thể dẫn dắt cả một cộng đồng to lớn. Cho nên nàng bắt đầu tập hợp dân chúng, nàng bắt đầu dạy họ thêu thùa, dạy họ lập làng xã, dạy họ cách sống, dạy họ cách liên hợp với nhau, dạy họ cách đào giếng thật sự, dạy họ cách để tạo nên những cuộc sống phồn hoa sung túc hơn, dạy họ cách tạo nên những cuộc sống mà họ không cần phải dựa vào những quan chức kia, những bầy tôi đô thị, các thương nhân, họ có thể tạo thành những cộng đồng nhỏ, họ cứ nhân lên, nhân lên như thế không ngừng. Họ từ chối triều đình, họ không đáp trả lại triều đình, họ từ chối nộp thuế cho triều đình. Tất cả những điều đấy khiến cho nàng ngày càng thành một mối đe dọa, và như thế những người mang nhân tâm trong triều muốn khống chế, thậm chí trừ diệt nàng.

Lần này thì triều đình nhờ đến một Đạo sĩ lúc đấy đã rất nổi tiếng ở kinh thành, người Đạo sĩ này chính là Âm Tiên.

Cho nên nói nàng vì Vị Thần xanh đỏ mà ở nhân gian, chính là bởi vì Vị Thần xanh đỏ nên cứ ở mãi nhân gian. Phần cần gặp thì không thể gặp, phần không cần gặp nhất định phải gặp, chính là duyên nghiệp như thế. Nhưng người ta không chịu đủ nạn thì nhất định không cứu được người, không chịu đủ nạn thì nhất định không cứu được đời, không chịu đủ nạn nhất định không có đủ năng lực thực hiện Sứ Mệnh. Lần thứ nhất thì nàng giống như trong khí công thái, điên loạn không biết gì, chỉ biết nói chuyện với Trời Đất, đi tìm những người mà mình cần tìm. Lần thứ hai nàng có lí trí hơn, đã biết tạo nên những cộng đồng, nhưng chưa biết cách điều hòa với nhân gian, để nhân gian buộc phải công kích nàng. Nhân gian bảo vệ những trật tự của mình, bảo vệ những điều đang diễn ra một cách bình thường, để không tạo nên những thế lực của người tu mà gần như là con người ở nhân gian, không nên để có một sự tồn tại như thế can nhiễu vào sự tồn tại của xã hội, nhân gian đã triệu đến một sức mạnh khác, đấy chính là Âm Tiên.

Ông ta lại đến một lần nữa. Lần này ông ta cũng biết nàng là ai, bởi vì ông ta vẫn nhớ nàng là ai, ông ta vẫn biết nàng cần gặp Đào Lang. Ông ta chỉ hỏi nàng: “Ngươi có muốn sống nữa không?” Rồi nàng trả lời: “Ta có thể sống, ta có thể chết.” Rồi ông ta hỏi tiếp: “Ngươi muốn gì? Nếu ta giết ngươi, ngươi sẽ muốn gì?” Rồi nàng trả lời là: “Ta chỉ muốn tìm Đào Lang. Ta chỉ muốn các con của ta được lớn lên. Ta chỉ muốn làng xóm này trở nên xanh tươi. Ta chỉ muốn nhân gian này phụng Thần. Ta còn muốn mọi người đều biết đến Thiên Đình, đều biết là Thiên Đình tồn tại, đều có ý niệm là trên Trời còn có Vua Cha, còn có chư Thần, ta muốn mọi người đều biết.” Rồi Âm Tiên nói: “Nếu như ngươi chết đi, ta có thể giúp mọi người ở đây biết được điều đấy.” Rồi nàng nói: “Ta không chết, ta cũng không sống. Ngươi không thể giết ta được, ta đã chết, ta lại sống một lần nữa. Ngươi giết chết ta một lần nữa, ta lại sống một lần nữa. Ngươi có giết chết ta bảy bảy bốn chín lần ta vẫn tiếp tục tái sinh, bởi vì ta ở đây vì các con ta, ta ở đây để khiến cho chúng sinh này phụng Thần, có thể tôn trọng Thiên Đình, cho nên ngươi không thể giết ta được.” Rồi nàng tiến về phía Âm Tiên, nàng cất tiếng: “Ta không hề có tu học, nhưng ta biết ngươi pháp lực Thông Thần, ta biết ngươi giáng bàn tay có thể khiến cho ta chết, nhưng những người ở đây vì tin ta mà tin Thần, vì tin Thần mà tin ta. Những người ở đây vì ta mà đi lên, vì ta mà phục dựng Đền Chùa Miếu Mạo, vì ta mà xây dựng nên những Đình Quán. Ngươi nói xem, nếu ngươi giết ta, ngươi có thể giết đi tinh thần của họ không? Nếu như họ còn tôn trọng Đình Quán, còn tôn trọng Thần, thì ta không bao giờ chết cả, tinh thần của họ còn gọi tên ta thì ta sẽ ở đây một lần nữa.”

Rồi Âm Tiên tiến về phía nàng mỉm cười nói: “Ngươi biết thế là tốt, có điều ngươi ở đây một lần nữa cũng chưa biết được lí lẽ của mình phải làm, ta lại phải tiễn ngươi một đoạn nữa vậy.” Nói xong Âm Tiên liền phất bàn tay, từ trong bàn tay của ông một ánh sáng thất sát giống như một tia sáng lóe lên, thì nàng đã đầu rơi khỏi cổ, ngã vật xuống. Thân nàng ngã đến đấy thì biến thành một hòn đá rất to, hòn đá này lớn lên như một tảng núi, một ngày một đêm sau đã biến thành một tảng núi lớn, và từ tảng núi này, ở trên đỉnh ngọn núi lại mọc ra một bông hoa thất sắc, bảy ngày thì nó tàn. Tàn xong thì ở trong Thanh Hóa lại có một đứa trẻ ra đời, trên chân nó lại có chữ: “Đào Lang”.

Lần thứ ba nàng giáng thế vẫn hết sức quyền năng. Nàng sinh ra trong một gia đình người tu, những người này là môn nhân của Hỏa Môn. Khi nàng ra đời xong thì nàng được học hành từ Hỏa Môn từ bé, đến lúc Hỏa Môn bị tà ma tiêu diệt, tất cả tứ tán, nàng cũng ra khỏi Hỏa Môn, vẫn mang theo Hỏa Công, nàng vẫn luyện Hỏa Công, có điều không phải Hỏa Công mà về sau Hỏa Công còn lưu giữ, bởi vì nàng chỉ là một nhánh ở trong đấy. Hỏa Môn chia ra làm 9 nhánh, có 9 bài Hỏa Công khác nhau, về sau co làm 5 nhánh, nàng ở trong các nhánh chính. Nhưng Môn của nàng, nàng gần như là người kế thừa cuối cùng. Dần dần từ Thanh Hóa nàng bắt đầu gặp gỡ rất nhiều chư Thần chư Tiên, và bởi vì nàng đã sinh ra trong một gia đình loạn lạc của người tu, cho nên nàng hiểu được cái đau đớn của người tu, nàng hiểu được chỗ ở trong cõi đời này, ở chỗ lòng dạ con người không nhất định có thể giúp được người tu, ở những giới hạn của tu luyện không thể bộc lộ các phép thuật trước mặt người thường, khi gặp người thường tự nhiên sẽ bị cấm khóa, rằng mỗi không gian, mỗi trường thời gian đều có những người bảo vệ, nàng biết rằng không thể xâm phạm những điều đấy. Nàng gặp được rất nhiều Thần Tiên ở Thanh Hóa, nàng gặp được rất nhiều người tu ở các Phái khác nhau, từ đấy nàng bắt đầu có tri thức. Nàng bắt đầu hiểu được về Thiên Đình, nàng bắt đầu hiểu được rõ lẽ của từng Phái, biết được cách phân biệt con người tốt – xấu, biết được trước – sau, đúng – sai, phải – trái, nàng ngày càng hiểu ra điều đấy. Nàng càng biết rằng Đào Lang mà nàng tìm không hẳn là Đào Lang, nàng biết đấy là người cần tìm, nhưng nàng lại không biết là tìm vì gì, tất nhiên nàng đi đâu cũng vẫn cứ hỏi: “Đào Lang của ta đâu?” Rồi nàng cũng biết điều đấy nhưng nàng dần dần tỉnh táo hơn.

Nhưng cho đến một lúc, điều mà nàng làm được là một điều vĩ đại hơn, nàng tập hợp được trong tay một lực lượng Linh Thần to lớn. Các Thần núi sông, ba mươi sáu động, bảy mươi hai huyệt, tất cả những Thần Linh sông núi khi gặp nàng đều tỏ ý quy phục, tất cả các yêu quái địa phương, tất cả đều tụ tập lại, và từ lúc này nàng bắt đầu thách thức một lực lượng, một lực lượng đã nổi lên từ trước, đấy là các Phái của Đạo gia, và đặc biệt là việc mà nàng thống trị ở Thanh Hóa đã tạo nên một sự việc vô cùng khẩn yếu, đấy là nàng được trợ lực của một người. Người này đã đến với nàng và đã hứa là sẽ cùng nàng xây dựng mọi thứ, xây dựng mọi thứ để bảo vệ non sông này, bởi vì người ấy nói với nàng là: “Đất theo Trời”, và người ấy nói với nàng: “Bởi vì Đất theo Trời, cho nên tôi có thể phụng vụ bà, chỉ cần bà bảo vệ non sông này khiến cho nó luôn luôn hàn gắn, khiến cho nó vĩnh viễn là một.” Đấy chính là Bạch Vân Cư Sĩ. Hai người gặp nhau ở Thanh Hóa.
Khi Bạch Vân Cư Sĩ đến gặp nàng rồi, họ bắt đầu triển khai một việc vô cùng rộng lớn. Họ bắt đầu liên kết với tất cả các Sơn Thần ở vùng núi Ninh Bình, Thanh Hóa, Nam Định, đấy là những mạch núi chính, từ vùng này họ bắt đầu kiểm soát và đối sánh với các thế lực của các Phái dưới Tản Viên Sơn Thánh, tức là một Phái khác của Hỏa Môn - Bạch Môn, một trong những phái Tiên Môn lúc đấy, về căn bản có hai đại Môn Phái nổi lên là như thế.

Sông núi rút cục là theo Trời, thực ra ý nói là gì? Khi được tạo ra thì sông núi là do Thiên Ý mà tạo ra, trong đấy có một loại Linh khí vô cùng to lớn, theo sự tu luyện của các Thần Tiên mà các Linh khí này được bảo dưỡng hoặc không, và cũng theo ý chí của các Thần Tiên to lớn mà các mạch Linh khí này có thể dời đổi, và đôi lúc các mạch Linh khí này cũng cạnh tranh nhau nữa. Cho nên nói là trong tứ đại Linh mạch thì cũng có cả Thần Long, Ác Hổ, Phượng Hoàng, Long Quy, đều có đủ cả. Linh khí mạch nào sẽ phát, sẽ điều chuyển toàn bộ nhân gian theo hướng đấy, nhân gian theo hướng nào sự thờ phụng sẽ đổi thay theo hướng đấy, sự đối ứng sẽ đổi thay theo hướng đấy, và rất nhiều an bài sẽ đổi thay theo hướng đấy.

Cho nên lúc đấy, cùng với sự trợ giúp của Bạch Vân Cư Sĩ, họ đã liên minh được cả một lực lượng các Thần sông, Thần núi cực kì mạnh mẽ, cấu thành một bộ phận mạnh mẽ để yêu cầu trục xuất tất cả những Phái ngoại tu - tức là những phái tu xuất phát từ bên Trung Quốc, không thuộc về Địa Thần xứ này, không thuộc về các Linh mạch của xứ này. Bởi vì họ coi Linh mạch của xứ này là ở đâu? Họ coi Linh mạch của xứ này là từ Thần Sơn mà xuống, cho nên điều họ làm ở đây là bảo vệ Thần Sơn, và họ sẽ chống lại tất cả các phái nào xuất phát từ bên Phúc Kiến, từ bên Trung Hoa, tức là đến từ các vùng trung nguyên rộng lớn, vốn không liên quan đến việc bảo vệ ở đây. Họ sẽ trục xuất ra khỏi những ngọn núi này, họ yêu cầu trả những ngọn núi lại cho các Sơn Thần, cho những người tu của Phái họ, đúng hơn là cho những người tu ở xứ này, những người được sinh ra với nhiệm vụ bảo vệ xứ này. Và đấy là một cuộc chiến vô cùng to lớn đã diễn ra giữa họ, với một người đứng đầu của những Phái Tiên Môn còn sót lại, một Phái Tiên Môn chủ trương là Tiên Môn không được can thiệp vào bên trong chuyện này, và người đứng đầu của Tiên Môn còn sót lại vào lúc đấy, vào lúc mà họ nổi lên đấy, là Tiền Quán Thánh, có trong tay ba đại đệ tử còn rất bé nhỏ.

Cuộc chiến chỉ diễn ra trong vỏn vẹn một năm. Nó đã làm thay đổi toàn bộ Linh mạch ở xứ đấy, nó đã gây ra vô cùng nhiều điều tang thương. Cuộc chiến trong việc Tiên Môn cố gắng ngăn cản Liễu Hạnh và sau đấy Liễu Hạnh đã kết hợp với cả hai Mẫu nữa để tiến hành cuộc chiến của Nội Đạo Tràng. Cuộc chiến của các trường Nội Đạo Tràng ở đây có bao một nghĩa rộng hơn, là cuộc chiến của các trường phái tu Tiên trong nội bộ một quốc gia. Người thường về căn bản không được biết đến, họ chỉ nghe được lõm bõm bản thể của câu chuyện này. Câu chuyện này là của Tiên Môn chống lại chính những người mà Tiên Môn coi là phản đồ, tức là những người muốn dùng Tiên Môn để can thiệp vào sự vụ nhân gian.

Vị Thần xanh đỏ xuyên suốt mọi câu chuyện. Nhưng điều quan trọng là Vị Thần xanh đỏ không chỉ là một, vị ấy đạt đến tầng Như Lai nên phải nói là thiên biến vạn hóa. Vị ấy có thể là một niệm của một Vị lớn hơn, như đã kể ở trong Phù Vân. Ngài là một vị Thần quyền năng, Pháp lực của Ngài vô cùng to lớn, năng lượng này lập tức tổ hợp các ý niệm của NGài thành hình dạng tương tự như Ngài, và thực hiện những việc Ngài muốn, với một trí tuệ tương đương với trí tuệ của Ngài. Cho nên, khi một vị Thần có Pháp lực đến tầng Như Lai động một niệm thì ở đâu họ cũng xuất hiện, cho nên Như Lai ở khắp tất cả mọi nơi, đấy là điều rất nhiều người đã trải nghiệm. Ngài ở khắp nơi.

Âm Tiên và Dương Tiên đều là những Trưởng lão của giới tu Tiên, vô cùng uy tín. Pháp lực của họ gần như Thông Thần, đến nỗi người ta còn không biết Môn Phái của họ từ đâu mà ra, chỉ có những Thần Tiên bậc nhất mới có thể gặp họ và nói chuyện với họ, trừ khi họ tỏ lộ mình cho người, người ta nhất định không gặp được họ. Cho nên lúc mà những mâu thuẫn đến đỉnh cao, việc Bạch Vân Cư Sĩ dám liên minh với các thế lực khác để diệt trừ Âm Tiên, đấy là một chuyện gần như không tưởng, vô cùng liều lĩnh. Nhưng chúng ta cũng biết, duyên nghiệp trùng trùng, khó nói ai là ai, ai vì ai, rồi mỗi người có một Thiên Mệnh, Thiên Mệnh đấy thậm chí có thể va đập với nhau, ai biết được? Chúng ta ở đây đều vì Sứ Mệnh, đúng không? Sự việc là thế.

Có một khoảng thời gian Liễu Hạnh đã đi học với Quan Âm, đấy là một khoảng thời gian sau khi bà ấy bị trọng thương bởi các lực lượng của Tiền Quán Thánh. Nó kéo dài trong khoảng một đến hai năm, lúc ấy nàng thọ giáo Phật Pháp và bắt đầu lấy được Pháp danh là Liễu Hạnh.

Lúc Liễu Hạnh đến động tìm La Bình Công Chúa là trong giai đoạn lần thứ ba. Khi nàng gặp các Thần Tiên, lúc đấy nàng đã tụ tập các nhân tố Nữ Thần của các nơi nàng gặp để liên minh tạo nên các sự thống nhất của các mạch núi sông. Họ đã gặp nhau ở Thanh Hóa.

Từ đó lại mở ra vô số Tiên sự về sau.




Thứ Bảy, 4 tháng 8, 2018

Buổi đó, nơi đấy

Buổi đó anh thường ngồi một xe ngựa, đi suốt một vùng ngập nắng như giữa trưa, mùi đất đá dậy lừng, những hoa quả ngây thơ. Anh chẳng biết làm gì, chỉ dựa đầu và vào thành xe, tan đi trong mây gió. Xe chẳng biết phải đi về đâu,  chẳng biết đã đi bao lâu. Có khi, anh đã nghe tiếng nói chuyện của cát bụi, một mảnh gió rơi chạm phải một cơn gió khác.

Có khi những tiếng xào xạc chạm vào lá, và con cá quẫy đuôi làm rung rinh những vảy nhỏ. Bọt nước to bằng một tinh cầu, đập vào đâu đó rồi tung lên trong gió. Phía trước là ngàn mây, chỗ dày đè chỗ nhỏ, lọt qua đó là ánh nắng rất thơm, có mùi như ban sớm.

Cứ thế cho đến khi xe dừng lại. Ở đó có vài người thân quen, người uống mật ong, người uống nước ướp hoa, mùi dịu như kê tay lên mây ngủ quên mất. Anh dừng lại đó, ngủ quên trên chiếc bàn đá, tai còn thoang thoáng nghe tí tách có hạt mưa rơi phải hạt mưa.

Có một buổi trưa như thế dài bất tận, một cái chớp mắt đã tần ngần ở nơi đây. 

Đây chính là nơi đấy.

Chỉ cần em xắn tay, dựng xây một cuộc đời ^^

Thứ Năm, 26 tháng 7, 2018

Đốt cháy

1. Anh biết nó đọc sách hời hợt, chẳng chăm cũng chẳng Ngộ. Nó không có ai bảo hộ, hễ Ma ăn là chết.

2. Anh biết nó không chịu được khổ, chỉ sống bằng dục. Nghiệp lực bẩn đục, hễ rơi xuống nước là chìm.

3. Xét đến cùng nó chỉ là một đứa nhỏ, không lớn nổi. Chỉ biết sống với dục, sắc, lợi, tình. Đã láo toét, còn mất dạy.

4. Nó muốn giữ, thì bẻ tay nó. Nó muốn la liếm điều bậy bạ, thì cắt lưỡi nó vứt đi. Nó muốn nghĩ điều sai trái, thì cắt đầu nó cho vào vạc dầu.

5. Anh chuẩn bị đốt nó thành than rồi, không biết nó nhìn anh cười với nó thì có đoán ra không?

Chủ Nhật, 22 tháng 7, 2018

Nói đến là đến, vạn sự giai thành


Sống phải vui. Muốn vui nhất định phải hạnh phúc. Đó là mấu chốt. Hạnh phúc là cảm giác bên trong. Vui là cảm giác bên ngoài. Hạnh phúc chỉ có thể tự mình hạnh phúc. Cho nên ngày xưa, muốn hạnh phúc thật thì phải giải thoát, tu luyện, theo Phật, theo Thần Thánh. Còn muốn vui phải có bạn bè. Chúng ta phải có cả hai thứ đó. Cho nên đi tu vẫn cần có tăng đoàn. Sau khi được nghe lời Phật dạy, tối đến lại vỗ vai nhau, hôm sau đi khất thực. Đó quả là một cuộc sống hạnh phúc. 

Đôi lúc anh nghĩ về thuyết Tiến hóa, giả sử nó đúng, ta rất bất ngờ vì loài vượn, tinh tinh, khỉ, bất cứ loài gì có thể gọi tên, đều sinh ra không phải để cảm thụ bất hạnh. Chúng rất vui vẻ. Nếu không nằm phơi bụng nghĩ về vũ trụ và thiên văn thì chúng leo cây, nghĩ về tự nhiên. Nếu không thì chúng ngồi chăm sóc cho nhau và nghĩ về tình đồng loại. Tính đồng loại của loài khỉ rất thân ái, phải không? Rõ ràng chúng rất sướng, Chúng đâu lao động khổ sai. Nếu đúng là khỉ tiến hóa thành người, chúng ta phải chọn xem mấy loài khỉ, tinh tinh, vượn, bất kỳ loài nào đấy, chúng tiến hóa từ vùng nó khổ hay vùng nó sướng. Tiến hóa thành người để sướng hay để khổ. Anh rất thắc mắc. Vì con người là một sinh mệnh khổ đau trong từng thời khắc, nên hẳn con người không thể tiến hóa từ vượn được. Vượn sống sướng. Còn đời con người thì khổ.

Bất kể chúng ta sướng hay khổ, chúng ta cũng cần có nhau. Anh vẫn nói với mọi người, anh chỉ có một khát vọng, đấy là cống hiến và đóng góp vào xã hội. Còn lại có thể làm được gì cho mình hay không, anh không thật đề cao cho chính mình. Anh thích những cuốn sách không đề tên tác giả. Tại sao lại thế? Sự cống hiến cho xã hội nên vô danh. Lấy một cái tên tập thể nhưng cũng chính là vô danh. Vô danh – Hữu danh đều là một. Đạo còn Vô danh nữa là người. Lấy cái đó để thể hiện sự cống hiến. Khi chúng ta có sự cống hiến, chúng ta có thể kiên nhẫn vượt qua khó khăn. Ta rất mong điều đấy.

Sẽ còn nhiều người tìm đến với anh. Họ sẽ giúp anh dựng xây mọi thứ ở đời. Có những người đã bỏ rất nhiều cơ hội bên ngoài, cầm lấy tay anh, kiên nhẫn đi một chặng dài, xây dựng một tương lai cống hiến cho xã hội. Họ đã từ chối những địa vị rất thuận lợi, thậm chí bỏ những lời mời rất thuận lợi để ở đây, làm cái gì đấy cho khát vọng, ước mơ cống hiến cho xã hội. Anh mong rằng anh em cũng có ước mơ đó. Trải qua rất nhiều khó khăn, đôi lúc chúng ta nghi ngờ con đường của mình nhưng nhất định chúng ta không dừng lại. Ta nhất định vượt qua khổ để đạt đến Hạnh phúc đích thực. Chúng ta có thể vui vẻ với nhau. Chúng ta có thể không cần phải cân nhắc xem chúng ta tiến hóa thành nhóm khỉ khổ hay nhóm khỉ sướng. Nếu là nhóm khỉ khổ, chắc xuất phát từ châu Phi thật. 

Nhân ngày hệ trọng, anh chúc mọi người rất vui, rất hạnh phúc, ngày càng hạnh phúc. Cảm ơn mọi người.

Thứ Năm, 12 tháng 7, 2018

Sự-tầm-thường ai cũng có

1. Một chút mệt mỏi, một chút tình, một chút tâm cảm cá nhân, những lý do nhạt nhẽo... Con người là con người, không thể kiên trì, luôn luôn yếu đuối, dễ dàng gục ngã. Con người bình thường là con người tầm thường. Sự tầm thường đó ai cũng có. Không phải vì ai cũng có mà nó tầm thường. Mà vì bản thân sự tầm thường ấy thật tầm thường. 

Đôi lúc, đáng khinh.

2. Anh gặp 1 anh chàng làm IT, giống người bạn của anh năm xưa. Cũng ẽo ợt, yếu đuối. Cái bạc nhược dễ biến thành điên loạn. Cái sợ hãi dễ biến thành đê tiện. Thói lùi bước nực cười. Nhưng đó là con người. Con người, với tất cả sự tầm thường ai cũng có.

Thì có thể mong gì hơn?

3. Con người, hôm nay là tiền bạc, mai là tình ái, mai nữa là đố kỵ, tranh giành, cố tìm một giá trị lỏng lẻo giữa một đời lộn xộn. Con người, như một bó những sự tầm thường, những sự tầm thường ai cũng có. Nhờ đó có một xã hội.

Nhờ đó, xã hội thật tầm thường.

Cái tầm thường ai cũng có!

Thứ Ba, 19 tháng 6, 2018

Mê thì Mờ

1. Thói háo sắc của nó đúng là khiến anh khinh bỉ nó. Anh thấy cái thói đó cứ nhơ nhớp đến hạ đẳng. Nhưng thôi, đó là lựa chọn hèn hạ của nó. Nó sống với nhục dục thế gian.

2. Anh cho rằng trước Đại sự, chỉ có người góp sức và người phá hoại. Người không góp sức chính là phá hoại.

3. Anh có thể thò tay vào phân mà lấy ra viên ngọc. Nhưng nếu viên ngọc tự ý nó là muốn làm phân, nhất quyết xem mình là phân, thì nó cũng xú uế hôi hám như vậy. Không thể lấy ra được dù ở ngay trước mắt.

4. Thật ra thì bản thân sự vô dụng không có xấu tốt. Nhưng con người vô dụng thì đúng là không đáng trân trọng.

5. Nó diễn một vai không ra phản không ra chính. Nói chung là một vai vô dụng.

6. Anh thấy sắp thay nó được rồi.

Thứ Hai, 11 tháng 6, 2018

Cắt vứt

1. Nó thích gần gũi phường xấu xa gian ác, lũ đốn mạt tâm thần, thì nó chính là chỉ xứng với lũ ấy. Một khi cái da thịt bẩn thỉu đã nhiễm thêm ô uế, thì cắt vứt đi chứ để làm gì? Người mê muội sai lầm còn có thể thức tỉnh. Kẻ đã biết còn cố chấp sa lầy thật đáng khinh bỉ. Nó có dám nhìn thấy ánh mắt anh nhìn nó ghê tởm khinh bỉ thế nào không? 

2. Nó đã bạc nhược như vậy, chỉ xứng làm bùn đất cát bụi. Bùn đất thì dưới đáy, cát bụi thì vạ vật, thật ra anh sớm đã gói nó chuẩn bị ném vào lửa đỏ rồi. Cho nó một cơ hội cuối, nó còn không biết, chính là tự giết tự hủy mình. Thật ra rác rưởi chỉ xứng làm rác rưởi, sớm biết thế rồi nhưng vẫn không sao khác được.

3. Muốn bỏ đi cái tệ hại, trước tiên phải cắt nó ra khỏi thân thể. Sau đó thì vứt đi. Em đã thấy ai cắt cái u ác đi rồi, còn ngâm lọ bỏ trên vách tường nhìn ngắm không? Thứ đã vứt đi, thì cho nó vào túi đen, buộc chặt lại, vùi xuống đất, ném vào lửa. Vĩnh viễn đừng có moi lên, đừng có lấy ra, đừng có ngắm nghía xót thương nữa.

Nó tưởng khuất mắt anh không thấy chắc? Tưởng nó giấu giếm thì không ai hay chắc? Một khi đã đến lúc, thì anh nhất quyết cắt vứt nó đi. Vô dụng mà còn dốt nát, khác gì phường phá hoại?

Thứ Tư, 30 tháng 5, 2018

Ánh nắng

Hôm nào anh cũng đi qua một vùng đất thiêng. Nắng chiếu sáng một bên là đất, phía kia là nước. Giữa đất và nước là đường, con đường ấy có rất nhiều con người qua lại. Qua qua lại lại, sáng sáng chiều chiều, đều là để kết duyên với nhau, hẹn nhau một ngày.

Anh đã gặp rất nhiều con người như thế. Ở chỗ tắc đường, Ngay bên một đèn đỏ mệt mỏi. Đầu một con ngõ chật ních. Giữa một trưa hè rực lửa ai cũng cau có. Bao nhiêu duyên đã kết, bao nhiêu người đã gặp mà không kịp nói với nhau một lời?

Con người chảy trôi như một màu mê mải. Lâu quá rồi anh không còn chìa tay giúp một ai thật sự nữa. Duyên gieo để đó, hạt mầm ấy mọc được thì mọc, ra được hoa thì ra, kết được quả thì kết. Thi thoảng có mưa giông, vài bông chắc rơi rụng. Hoa rơi có ngụ ý của hoa rơi, quả mọc có dụng tâm của quả mọc. Cái gì đến được thì đến, đi được thì đi, đừng trách làm gì. Người ta có giận có ngờ mình, chỉ là vì người ta xứng với cái giận dỗi ngờ vực đó thôi. Hoa rơi xuống đất, thì ở chỗ đất chứ ở đâu. Kìa em nhìn xem, trên cao vẫn là bầu trời.

Hôm nào anh cũng ngắm bầu trời. Nhiều khi là nắng. Đôi lúc có mưa. Cũng có mây bay, tán lá, còi xe và đường xa. Có rất nhiều mưa đã thấm vào người anh, anh thường nói Trời muốn anh ướt, cứ để anh ướt. Có rất nhiều nắng đã đọng lại trong anh, anh vẫn thường nói Trời muốn anh sáng, thế thì cứ sáng. Buổi sáng là khi đêm qua đi. Trời sáng là khi mây tan đi. Ánh sáng là khi rơi vào lòng bàn tay anh, tròn vo rực rỡ.

Chắc mấy hôm nay em rất mệt. Trời đất não nùng, nóng lạnh, ẩm thấp, khô hanh đan xen nhau. Con người ấy, thân vốn là nước, cũng còn là bụi, lại còn là trùng bọ, có một phần rất Người. Hễ Trời động thì nó đau, hễ đất động thì nó khổ. Em hãy cố bước một bước khỏi cái thân phàm xác tục, lấy cái tinh thần cao thượng mà chỉ lối cho mình. Thế thì mới đi được, đi thế mới xa được, đi xa mới đến đích được.

Mấy hôm nay anh lại qua một nơi mới. Ban đầu hơi vướng, nhưng có thể cười. Ở đó gần Trời mà không có nắng. Xa đường mà vẫn bon chen. Ít người mà vẫn chật chội. Lòng anh rất băn khoăn, nên làm gì nữa nhỉ?

Trong lúc anh còn đương thắc mắc, có một tia nắng tìm đến gõ vào mắt anh.

Anh đã ngước lên bầu Trời.

Và thấy rất nhiều tia nắng lạ.

Phía trên đó, còn rất nhiều ánh nắng, phải không em?

Thứ Năm, 24 tháng 5, 2018

Hoa không nở hoa

1. Thật ra thì, nó đã khốn đốn lắm rồi, chỉ cần cất tay là nó rơi vào bãi rác, đọa xuống bùn sâu, chìm trong cát bỏng. Có điều cho mọi người thấy rõ, là để thấy rõ mọi người. Bình nhật nói tín tâm lý trí, lòng dạ thuần thành, thử xem đến khi trong nhà có chuyện, thì sẵn lòng mà hành sự hay không?

2. Hoa không nở hoa, thì chính là cây hại. Nếu đến cây hại còn có hoa, thì hoa không nở hoa kia thật độc địa. Phường độc địa ấy, anh tiện tay là có thể bẻ vứt vào lò rèn, giơ búa đập cho đến lúc cát bụi cũng lớn lao hơn nó. Sở dĩ để cho nó trơ trơ ở đó, là muốn cho người đời biết, kẻ ác-ý ác-tâm đê hèn bần tiện, miệng lưỡi tuy nhổ bùn phun máu thế, hóa ra không cần ai động vào nó cũng tự héo rữa.

3. Không ai xé áo lành mà đi vá áo rách, không phải vì cái áo lành hay rách, vì lành hay rách đều là áo. Người ta không xé cái áo lành, là vì tính-lành ấy chẳng nên thành tính-rách. Áo rách đã không thể vá, thì nên xé ra mà hủy bỏ, phòng khi có kẻ phải đọa vào chỗ rách. Này, em đừng sợ tự dưng lại mang lấy áo rách, kì thực anh đã xé nó rồi, nó động thân lập tức thấy mình nát bấy. Anh chính là muốn em đừng để áo mình rách, đến mức phải xé bỏ.

4. Anh bảo nó nở hoa đi, tất nó nở ra, lại còn kết trái. Nó mà chẳng kết trái, thì đã đổ gãy hoặc bị người đời xé nát rồi. Nên nói rằng trong vũ trụ còn có cái lý báo ứng phía trên, nhân quả ở giữa, nghiệp đức ở trong, duyên nợ ở dưới. Đều là trong an bài, có gì đâu em phải nghĩ.

5. Nên mặt trời chưa lặn, nó đã chết rồi.

Thứ Hai, 16 tháng 4, 2018

8 of pent

1. Nỗ lực đều đặn
2. Sự thận trọng
3. Sự kiên trì và sức chịu đựng


Mộc tính ở Âm Mộc. Mộc ở Pad

Thân xác, thế là, hóa ra một mặt chỉ là một đời sống cướp đoạt từ sự sống sự trôi chảy thanh thản, mặt kia là dục vọng dị dạng luôn cố tự trấn an mình bằng tiền bạc và sự nghiệp. Đời sống, trong thâm tâm của nó, chỉ là một nỗ lực đều đặn và hèn nhát giấu kín mình trong những cơn run rẩy lúc nào cũng xúi giục và bùng phát, nhưng ấy là những cơn run rẩy thông minh, đều đặn, khôn lỏi, thận trọng và xảo trá.

Dục vọng là cơn run rẩy thứ nhất, con người đem mình gá cho một kẻ ngoài nó, mô phỏng người đó, dùng thân xác của mình để thí nghiệm và thỏa mãn những khao khát điên loạn. Bằng cách này, con người gọi những kẻ mà nó lén lút hướng dục vọng đến là quan xã hội. Lúc nào cũng thế, con người thèm khát mọi thứ ở những người quanh nó. Muốn tự hủy hoại, nó khao khát thấy người quen của nó đau khổ, bất hạnh và uổng tử. Muốn mơn trớn, nó hoang tưởng rằng mọi người xung quanh yêu thương hoặc tà ý với nó. Dâm dục, nó tưởng tượng ra cảnh tình tứ với bất kỳ ai nó gặp. Tham lam, nó đố kỵ với tất cả những ai giàu có và lúc nào cũng giả định mình như đang đứng giữa tất cả những thành công của thế gian, rồi đột ngột thấy mình trở về giữa một bãi rác hoang tàn của thực tại. Điều kỳ quái đến bệnh hoạn là, con người lấy tất cả những ảo tưởng và dục vọng ấy như một lẽ sống, chí ít vì thân xác là một cơ sở tồn tại, thân xác có quyền đòi hỏi quyền lợi của nó. Nhưng làm sao để dục vọng này lớn lên mãi, hùng mạnh thêm mãi? Thể xác hóa phép cho dục vọng được mang lấy lớp vỏ quan hệ xã hội, để con người tự kìm mình, bị khóa nhốt trong một cái lồng khao khát điên loạn. Cứ thế, mỗi mối quan hệ xã hội lại nuôi dưỡng một dục vọng nào đó, biểu hiện ra thành một xúc cảm khi thì hời hợt, khi thì quá khích. Cả khi thể xác mệt mỏi vì cái nhịp đau khổ của những mối quan hệ, nó vẫn cố lết ra ngoài đời, gặp gỡ bất kỳ ai, chạm vào bất cứ thứ gì, mơn trớn mình từ lắng nghe đến lạm dụng để tìm kiếm một cảm giác sống. Đó là cái cảm giác mà nó tự cho là chiến thắng, nó cho rằng cái cảm giác sống này là lý lẽ, là bằng chứng rằng nó chính là Sự-sống bản nguyên. Có thể che giấu nổi điều này sao? Có phải mỗi khi đằm mình vào quan hệ, con người cảm thấy mình có can đảm để sống tiếp? Có phải nó luôn nói rằng nó nỗ-lực vì người khác và tìm thấy tình yêu sống trong đó? Thì chính thế đấy!

Nhưng như thế, nó sớm thất vọng. Mộc nguyên không thể hòa trộn vào Súc sinh đạo, vào cung Pad, mà chỉ rơi vào đó, chìm trong đó, nhức nhối, bực bội. Làm sao để trói chặt Mộc nguyên, làm sao để thao túng và thống trị cái ánh sáng chói ngời của sự sống? Thân xác không thể một mình nó làm điều đó. Trong âm mưu đáng tởm của Thân, Bến Mê dự phần như một ông chủ. Nó điều hướng những tham lam, dục vọng, đố kị, hoang tưởng của con người vào một nhà ngục lớn lao hơn mà nó gọi là xã hội. Xã hội nuôi dưỡng dục vọng của thể xác bằng những kỳ vọng, trong đó con người ta muốn thấy mình giàu có, thành đạt, được trọng vọng. Và hướng ngược lại cũng kích động không kém: Con người bật máu trong cảm giác nghèo khổ, thất bại, bị bỏ quên, bị khinh rẻ. Hai chiều hướng đó chỉ là một, chỉ là cái dục vọng từ chỗ muốn đi chiếm hữu đã chuyển sang dạng thức muốn được chiếm hữu. Thân xác muốn được xã hội xâu xé, chiếm hữu, nâng lên, đè xuống, sỉ nhục, tôn vinh, đắp lên, tước đoạt. Bến mê đặt con người lên bàn mổ, nó bảo con người, ngươi chính là Thân Xác, là máu thịt được tạo nên từ đủ loại thức ăn trồng trên đất cát, ngươi chỉ là đất cát hoặc là điều mà ta thừa nhận. Con người, kinh hoảng một cách cố ý, gắng khước từ khía cạnh dục vọng cá nhân để được chính thức hóa ưỡn ẹo trong dục vọng xã hội. Cái tôi dâm dục phóng chiếu lên thành cái tôi lý tưởng. Thế là suốt cuộc đời nó, thể xác dâng hiến nó cho cái nhìn của xã hội, đến mức, cả khi chết rồi, hạnh phúc của thể xác ấy là được yêu mến, được nghe tiếng khóc lóc, được mặc đẹp, được chôn cất, được tưởng nhớ. Nhưng đến lượt mình, cái hạnh phúc ấy là một ảo tưởng, một ảo tưởng thuần túy và đau đớn. Thân xác biết điều ấy, nó lợi dụng Bến Mê trong khi bị Bến Mê lạm dụng. Nên nó khao khát cuộc đời, đồng thời cũng sợ hãi tất cả. Thân xác muốn tan đi trong dục vọng nhưng thận trọng trước người ngoài. Vì thế con người ta dò xét, sợ hãi kẻ lạ mặt, nhưng một khi đã tin tưởng, thì sẵn sàng bẻ hết những khóa nhốt dục vọng. Con người thận trọng chính là con người dục vọng, nhưng là một dục vọng được xã hội hóa.


Đạt đến sự trưởng thành của dục vọng cá nhân và dục vọng xã hội, con người nén mình trong những quy luật đều đặn của đời sống. Nó chịu đựng và thỏa mãn với cuộc sống ấy. Nó hạnh phúc với tất cả những kỳ nghỉ đều đặn thường niên, những ngày nhận lượng thường kỳ, những mối quan hệ cố định lặp đi lặp lại. Điều ngược lại cũng chính là thế: Nó đau khổ khi phải lăn lưng làm việc từng ngày, mệt mỏi vì áp lực vật chất từng giờ, luôn khao khát một mối quan hệ bệnh hoạn hoặc vui vẻ đột nhiên xuất hiện và thay đổi đời nó. Cho đến lúc này, thân xác vẫn đang kiên trì thực hiện cuộc đánh đổi của mình, nó chịu đựng chính nó và chịu đựng bị Bến mê tước đoạt như một phép khổ dâm để dược kéo dài cảm giác dục vọng hưng phấn của mình. Một lúc nào đó, con người bật thốt: Tôi MUỐN sống. Cái MUỐN đó, dù là muốn sống tiếp hay muốn sống một cuộc sống khác, thì không khác gì nhau cả. Chỉ là cái cuộc sống ấy thôi, cái cuộc sống tự thiến để khao khát được thỏa mãn, và cũng thế thỏa mãn những khao khát.

Chủ Nhật, 15 tháng 4, 2018

7 of pent

1. Chưa đạt được thành công

2. Sự không hoạt động

3. Mất khoản tiền đã được hứa cho



Mộc tính ở Dương Hỏa. Mộc ở Nam Thiên Vương

Có gì khiến thể xác điên loạn hơn là bị khước từ? Có sự khước từ nào lại không phải là sự khước từ thể xác. Thể xác, tự nó, là hiện hữu duy nhất mà con người có thể dùng để tự kiểm nghiệm mình. Con người chỉ biết mình là mình qua thân xác, và con người chỉ biết đánh giá cả mình lẫn thế gian bằng thân xác. Thế gian là chiến trường mà ngay từ đầu Thân Xác đã chiến thắng tâm trí. Ngay từ đầu, tiền bạc và mọi biểu hiện của sự giàu sang đã khuynh loát trật tự loài người.

Nhưng từ sâu thẳm, tiền bạc, tự nó, nó biết mình làm chủ nhưng không có quyền làm chủ. Tự nó, thế gian biết mình thống trị nhưng lúc nào cũng sẵn sàng đánh mất quyền uy. Vào một khoảnh khắc nào đó, thoáng chốc, cũng có thể là bất ngờ, con người, dẫu bị cầm tù trong một thân xác hư đốn, tự nhiên cảm giác được điều đó, nó tự biết rằng thân xác này vô nghĩa như thế gian. Nó cảm thấy toàn bộ những gì nó đạt được là vô nghĩa. Cái khoảnh khắc ấy con người vừa lướt qua một công viên chật chội, ngắm nhìn những kẻ trẻ và già lẫn lộn, nhận ra mình đã từng thơ ấu và sẽ cằn cỗi. Cái công viên cuộc đời thoạt hiện đã lập tức giống như một bản đồ cuộc đời, cái bản đồ khốc liệt tại đó tiền tài bị thiêu đốt ngay khi con người bị bóc khỏi thế gian. Cảm giác của con người khi đó là gì? Nó biết rằng sự sống lúc nào cũng sẵn sàng, và luôn chờ đợi, khước từ nó. Cái quyền lực vừa được thiết lập bằng tiền bạc, vừa được nghề nghiệp nơi thế gian củng cố, đột nhiên thấy mình trống rỗng và bất lực.

Sự bất lực gần như tủi hổ này lại chỉ là một hoạt hiện bất ổn. Nhưng nó dữ dội như một tia lửa bắn tóe vào mắt người thợ rèn. Đó là Mộc Tính khi chạm vào Dương Hỏa, thấy toàn bộ đời sống cá nhân của mình vô nghĩa trong một dòng đời ghê khiếp. Lời hứa của nhân gian dành cho thể xác, rằng nó sẽ được hoàn thiện bằng thành công, giàu có, bằng tiền bạc và sự nghiệp, đột nhiên trở thành lừa đảo. Vố lừa này đê tiện là vì, càng thực hiện cái lời hứa thành công và giàu có, con người càng bị thế gian tước đoạt và hạ nhục.

Nam Thiên Vương, vị thần trông giữ ngọn lửa sự sống, người bảo vệ thiện căn của thế gian, chỉ cho phép trong một tích tắc, con người chấp chới thấy được sự vô nghĩa lạnh lùng của thế gian. Cái sát na ấy tí tách nhưng ấm áp, nó sưởi ấm Tâm và Trí, nhưng tự nó, nó không thể kéo dài mãi. Con người, vốn không có gì khác ngoài tiền bạc và nghề nghiệp, một lần nữa lại thấy mình cần nhập cuộc, cần hòa lẫn vào thế gian. Con người, vào khoảnh khắc này, không còn thấy lời hứa của thế gian là huyễn ảo. Nó thấy lời hứa này là một mục tiêu, nó vội vã chạy về phía trước trên đường đời, tiêu tốn mọi năm tháng của thanh xuân và trưởng thành để kịp đạt lấy mục tiêu thôi thúc ấy. Tiền không bao giờ là đủ. Thành công không bao giờ là thừa. 

Thế là, vào cái khoảnh khắc lẽ ra nó có thể dấy động để Tâm Trí bừng lên, hồng hào, ấm áp, để nó bứt phá khỏi thế gian và bay cao, Thể Xác, một lần nữa, lại chiếm lấy sự tồn tại và đè nặng sự sống. Tâm Trí lại bất động, bất lực, trơ khấc. Thể Xác, dẫu thế, đã biết rằng nó cần làm nhiều hơn thế, để đánh bại và tận hủy sự sống, chiếm lấy sự tồn tại của con người bằng mọi giá. Đã thế, nó sẽ phải dâng hiến mình cho bến mê não nề và độc ác, để đổi lấy cái chiến thắng mà rốt cuộc sẽ trả nó về với cát bụi.

Bản chất của bến mê không phải là tăng trưởng và tịnh tiến, bến mê là cảnh giới hủy hoại, hủy hoại chân tính của sinh mệnh, sinh mệnh dưới mọi hình thức lục đạo của mình. Ngay cả sự ổn định và tình trạng truy cập lợi ích trực tiếp cũng là một phương cách bến mê tận dụng để hủy hoại chân tính của sinh mệnh. Đối với xác thịt con người, trực tiếp đối với tâm ý con người, đời sống tạo ra bệnh tật, sự ứ nghẽn, tổn hại, sự tước đoạt, đình trệ, đó chính là vết thương bến mê lưu lại vào thân tâm ý của con người. Vết thương, sự tổn hại, cả về lợi ích lẫn tinh thần, về thể chất lẫn tâm ý, đều là phương cách bến mê chiến thắng và tiến sâu hơn vào sinh mệnh con người, khiến con người khởi dậy một niềm ham sống ở mọi trạng thái tích cực đến tiêu cực, bề ngoài là sức sống, bên trong là sự khuất phục của con người trước bến mê. 

Thứ Sáu, 6 tháng 4, 2018

Nhìn thẳng vào mắt nó

1. Lẽ ra anh định âm thầm vứt bỏ nó, cho nó quay lại bãi rác đời nó. Nhưng anh nghĩ, đưa bùn từ đáy sông lên bờ khó, ném lại xuống nước xiết dễ, không đành lòng. 

2. Nó lấy tâm ý nhân gian rác rưởi, chạy theo dục vọng thấp hèn, vậy mà dám nhân danh anh, nhân danh điều cao quý. Hạng đốn mạt ấy một ngày không theo được chân người Tiên, không phải là phường phản phúc ném bùn vào người đưa đường mình đấy sao?

3. Thuận với dục vọng của nó thì nó hớn hở, nghịch với dục vọng của nó thì nó giả vờ đạo nghĩa. Cùng ăn đất cả giun với xác chết khác gì nhau? Mạng nó do anh cứu lấy, hất tay là trả nó về với tro bụi. Củi anh rút từ trong lò ra, lúc nào cũng có thể cho nó thành than nát.

4. Anh nhìn thẳng vào con ngươi bất tài vô dụng của nó. Miệng nó sặc mùi đỏng đảnh ẽo ợt. Nó đáng kinh tởm thế mà còn dám bật khóc nhói tim đòi thanh minh. Nó không biết mở miệng ra là nhơ nhớp. Miệng nó còn nói được là do anh nhồi rơm vào, ngoảnh mặt là chỉ còn rác mốc.

5. Anh cho nó cơ hội cuối cùng. Nó làm người không nổi, thì đừng làm người nữa. Vô dụng đáng khinh, đến cát bụi dưới chân anh cũng hơn nó.