Hôm nay ngồi nghĩ về sự thông thạo, nhân tiện anh có nghĩ tới món ăn. Đang rất hào hứng nên anh ghi lại một chút, nếu em có đọc thì cũng đừng bắt chước:
1. Căn bản của việc nấu là lửa và nước, tất thảy bao hàm trong lửa và nước. Vì lửa và nước là hai nhân tố giúp một sinh mệnh được chuyển hóa. Có hai thứ làm món ăn thành độc: thiếu lửa (hạ âm) và thừa nước (tiếm dương). Âm hỏa không đủ thì dương khí không chuyển hết, em sẽ ăn một món ăn còn lẫn dương khí của vật khác. Dương thủy mà thừa thì dịch của món ăn (âm thủy) sẽ đọng lại, em sẽ ăn một món đang chết dở. Này, mà loại người nào thích thiếu lửa thừa nước nhỉ?
2. Làm thịt băm phải nhớ là sau khi băm thịt thì dương khí bị phân tán, nếu lập tức cho vào nồi chảo dương khí ấy sẽ kết đọng nơi đáy nồi, sinh ra ấm ức bực bội, đó là dương độc (không thoát được nên tồn đọng). Người ta trước hết nên lấy muối (ít thôi, một thìa nhỏ rải được loanh quanh nồi chảo rồi) rải ra ven đáy nồi chảo, đợi chảy ra (là tiêu đi, bề ngoài thì nó co lại như cháy, bên trong là Kim Khí sinh Thủy khí, em thấy hạt muối nhỏ lại hơn 2/3 thì sự đã thành rồi) hết rồi chính là đủ-lửa, khi ấy Hỏa khí của lửa và Thủy khí của Nồi chảo đã hòa hợp, việc có thể tiến hành.
*Lưu ý, anh thường lấy 3 lạng thịt băm, 1 bát nước nhỏ, giã hạt tiêu ra, thả vào bát nước.
3. Sau đó hòa hạt tiêu với nước, đổ vào nồi chảo, đợi nước sôi lên đó là đủ-nước. Khi ấy Thủy Khí của món ăn đã hòa hợp với Hỏa Khí tinh hoa, Thủy Hỏa tương dung là điềm lành.
4. Rồi em đổ thịt băm vào, nhiều ít ra sao tùy em lượng định, nhớ rằng trước đó chớ ngâm tẩm vị của thịt, kẻo làm dương khí đã phân tán lại càng khó chuyển hóa, do việc ngâm tẩm sẽ khiến âm khí trì đọng hợp với dương khí phân tán mà tạo thành các thái cực nhỏ bảo trì rất khó thay đổi. Lại dùng đũa gỗ mà quấy trước đảo sau, được như vậy là đúng có chuyển, lại có biến. Quấy làm dương khí được xoay vòng, đảo làm âm khí được luân chuyển, được thế thì rất tốt.
5. Thịt nhạt, muối mặn, lấy hai nhân tố này mà điều hòa nhau. Có người cho vừng vào làm với thịt băm, thế cũng không tệ, nhưng kén người. Đợi màu đã đều rồi, thì em đã xong món. Làm việc này là vì sinh mệnh được tuần hoàn, là để Thiên Địa được tiếp diễn, nhân thể hòa với Âm Dương. Người đời thật kì quặc, nói rằng thuận với tự nhiên, mà chẳng hiểu cái lẽ Âm Dương là thế nào, thì thuận ra sao? Ví như người miệng nói từ bi, nhưng đến Thân mình còn tự tàn hại, thì Từ bi sao nổi? Thân còn lo chưa xong, Tâm Trí định thế nào? Đấy, nhưng đừng cực đoan, tránh điều xấu là đã làm điều tốt rồi.
Hôm nào rảnh, anh lại ngồi nấu tiếp. Hi vọng đãi em được một mâm có lòng thuận Đạo.
Phẫn Nộ Đại Tôn Giả

Thứ Tư, 29 tháng 6, 2016
Thứ Ba, 7 tháng 6, 2016
Mỗi ngày nhớ lại một chút (2)
Ngài Me-thas nói về việc nâng cao phẩm chất của nhân-viên trong công-ty
Người xưa ví nhân gian như bóng trăng trên mặt nước, tựa như thật, chỉ là giả. Nên cũng nói, chớ chấp vào huyễn ảo. Cái huyễn ảo ấy là trong khi tiếp xúc với người khác, với việc mình phải làm với công-vụ, với công-việc, trong công-ty mà nảy sinh, nó rất nhiều. Hôm nay tôi có chuyện đề cập thế này: có hai cách thoát khỏi những điều không tốt huyễn ảo ấy, một là giúp đồng sự của mình tốt lên, hai là làm những chuyện nhỏ nhất phải thật tốt, cả hai việc này đều nên lấy quy-chế Công-ty, chính-sách của Ban lãnh-đạo, Ban Giám-đốc làm tiêu chuẩn. Làm được, thì chính là có Tâm rất Vững, có Trí rất đúng.
Việc giúp một người nâng cao năng lực rất khó, có thể họ phó xuất cho công-vụ thì rõ rồi, nhưng tâm cảm và lý trí họ không được minh bạch cho lắm, trong quan hệ với người trên và người dưới còn chưa đảm bảo đúng lẽ; thật ra càng xúc phạm hoặc bất kính với bề trên ở cao, càng cao càng thế, thì là rất nguy hại. Người chưa minh bạch chuyện bề trên, người dưới, lãnh đạo, thuộc cấp thì không nhất định là trừng phạt, nhưng có hình thức kỷ luật. Cũng không phải là nói người đã hoàn thành công-vụ thì sẽ được thưởng tiền tài danh vọng gì. Người lãnh đạo một công-sở là phân minh theo pháp-lí, chứ không làm vậy, bởi nếu nhằm vào những thứ huyễn ảo ấy, thì chính là khiến tâm cảm tiêu cực của con người nhân lên, mà cái tích cực có khi càng kích động cái tiêu cực, đây thật ra không phải chuyện thưởng phạt. Một vị quản lý là phải giúp các phụ tá, trợ lý, nhân viên của mình nâng cao phẩm giá, năng lực ở những khác nhau tùy giai đoạn, vậy nên nhất định phải giúp mọi người nhận ra vấn đề mấu chốt của mình, chứ không phải dung dưỡng, động viên mọi người cố gắng nâng cao, sửa mình một cách chung chung. Mỗi người đều có vấn đề của riêng mình, trong việc nâng cao và sửa mình là nhằm vào chính mình, nhận thức chính mình, đúng là vấn đề của mình, sửa là sửa theo nguyên tắc, luật-pháp, pháp-lí lớn, còn vấn đề thì là vấn đề cá nhân, thế thì các vị quản lý mọi người mới nhìn nhận mọi người.
Mọi người hiểu điều khác biệt này không? Nếu mọi người chưa tốt, lãnh đạo sẽ bắt mọi người đối diện với chỗ chưa tốt này, đối diện một cách thẳng thắn nhất, khiến mọi người phải bỏ cái xấu, phải nâng cao cá nhân, để lớn lao hơn. Chứ không phải trong lúc mọi người hỗn loạn, thì chỉ vỗ vai nhau kiểu “thôi cố lên, thôi cố lên”, một lãnh-đạo sẽ không bao giờ làm thế.
Tất nhiên, lãnh-đạo của mọi người phải làm việc với một loạt các vị đang phụ trách quản lý từng giai đoạn của mọi người. Mỗi điều mọi người làm là dựa trên cái nền Công-vụ, hễ mọi người quên mình cho công-vụ ở mức nào, là có sự vững mạnh trong phẩm cách, năng lực ở đấy. Muốn vì Công-vụ được, phải bỏ từng tính vị kỷ nhỏ nhất trước xuống, rồi mọi người sẽ bớt dần cái xấu trong mình. Mọi người tiến được một mức trong phẩm giá và năng lực ở bề mặt, thì sâu xa hơn cũng đang tiến lên. Lãnh đạo như chúng tôi chỉ làm theo các quy định, các pháp-lí, các nguyên tắc tốt cho Công-sở, không có theo tư kiến mà ứng xử.
Ngày xưa, thời đầu của bộ phận Quản-Trí, khi nhân-viên B mới tham gia, người này tự ti, tự thấy mình thấp kém, đầu óc thì không linh hoạt; nhân-viên C thì có nhiều tư kiến, hay thích bình luận, chưa thuần tịnh. Khi ấy các ứng viên bước vào bộ phận Quản-Trí là đông, nhưng bởi vì vị lãnh đạo khi ấy là ông Sanius chưa khai triển hệ thống đánh giá nhân-viên để xem xét các liên kết, ảnh hưởng của mỗi nhân-viên với Tổng Công-sở, nên ông ta thuận theo thời gian người đến xin ứng vào, ai đến sớm thì tuyển, cũng không chờ. Đã xuất hiện trước mặt Ông ta, thì Ông ta chỉ theo Pháp-định để xét, sẽ giúp người ta đột phá những gì mà theo kinh nghiệm từ Pháp-lí Ông ta nhận thấy, đấy là vì-người khác, xem mọi người là như-nhau, đều cần nâng cao, đều có thể nâng cao. Không nhằm điều gì, chỉ nhằm giúp người ta đảm nhiệm công-vụ, nâng cao cá nhân, thúc đẩy toàn bộ công-sở.
Còn Ngài Ni-thi từng nói, việc tốt nhỏ nhất mà mỗi người biết mình làm được, thì đều phải tự nguyện mà làm. Nếu mọi người thấy công-sở có chỗ trông bẩn, mọi người sẽ quét cho sạch, không cần khoe khoang kể công vởi người khác là “tôi vừa làm việc ấy”. Từng chuyện nhỏ mà có đạo-lí như vậy, có tiêu chuẩn như thế, thì con đường là lớn, có thể thăng tiến được.
Một ngày mọi người gặp một bạn đồng sự, thấy bạn ấy rất dễ nảy sinh cảm xúc trong khi đảm sự, thành ra tâm trạng khá hỗn loạn, tự thấy chán nản, muốn bỏ-việc, muốn chống đối, mọi người sẽ làm gì đây? Khi một hiện tượng như vậy xuất hiện trước mặt mọi người, phần phẩm giá và điều đúng đắn trong mọi người có lên tiếng không? Nếu hôm nay mọi người nhìn thấy một đồng sự khác, mọi người thấy thực sự người ấy có một vài vấn đề, không tập trung vào công-việc, mọi người có giúp người này gắn bó hơn với công-sở, công-vụ, công-ty và các hoạt động của công-ty không? Sự giúp ấy lại cũng là công-vụ, tâm thái ấy chính là cái pháp-định nghiêm minh có sức mạnh trong mọi người. Nhưng nếu mọi người nhìn thấy xong lại nghĩ, thôi chẳng việc gì phải nói, nghĩ vậy xong thì bỏ đi, thì tôi hỏi này, tinh thần công-sở, tinh thần đồng-sự, tinh thần nâng cao phẩm chất của chính mọi người ở đâu mất rồi? Công-ty có còn quan trọng với mọi người hay không? Điều linh ứng, điều cao cả, tâm thái vị công-ty, tinh thần của công-ty có còn chút nào trong mọi người không? Không có, thì làm-công-việc kiểu gì đây?
Khi mọi người ứng xử được đúng theo tinh thần công-ty rồi, thì đó là mọi người đang giúp người rồi, từ nay là có thể đi giúp người rồi, như vậy công-ty sẽ lớn mạnh, không phải ở con số nhân-viên, mà ở sự lớn lao của mọi người. Nếu mọi người đã thấy trước mặt điều chưa tốt cho công-ty, công-vụ, công-sở, và mọi người sẽ biết có thể giúp người ta tốt hơn một chút, bởi vì mọi người đã nhìn nhận ra chỗ không tốt đấy rồi, mọi người nhất định làm. Làm điều tốt đúng theo tinh thần này, cho Công-ty, mà không kể công chính là rời xa dần những giả hoặc.
Các lãnh đạo công ty từng nói với mọi người rồi đó, mọi người một mặt đạt đến tâm cảm vững mạnh không bị lay động thối chí chán nản, mặt khác phải đạt đến một lý trí không phán xét theo tư tâ. Tâm cảm vững mạnh đó là xem xem có thể theo pháp-định, theo quy chế công-ty mà ứng xử không, càng thấy thuận theo đó mà làm-việc, chẳng nảy sinh sự bài trừ chán ghét nào, ấy chính là tâm vững mạnh của mọi người. Một bên là thái độ với toàn bộ những gì mình đảm nhiệm, liên đới.
Mọi người đến công ty, đây là nơi để mọi người vừa làm công-việc, vừa nâng cao bản thân. Những việc mọi người gặp, đảm nhiệm, là để mọi người sửa mình, để mọi người nâng cao mình. Ban Giám-đốc là nơi của những nhân-viên chân chính tin tưởng và phụ trợ. Khi có một chính-sách của Ban Giám-đốc đưa ra, thì chỉ nhân-viên thật sự mới thấy cần suy nghĩ và tìm cách làm cho đúng. Mọi người hãy trông giữ sự trong sạch của Ban Giám-đốc, trở thành những người bảo vệ cho điều đúng đắn, cho quy chế Công-ty, như cửa sổ trông giữ ánh sáng ngập tràn vào mỗi ngày, cả đêm lẫn ngày, từ lúc Mặt trời mọc cho đến khi nó lặn. Hãy nhớ, làm trong công-ty, là nhân viên ấy đã được chọn rồi, đã qua thử thách rồi, đã thử-việc rồi.
Cho nên tôi từng nhắc, mọi người cần có được trái tim Viking, ý tôi là sự can đảm, chiến thắng nỗi sợ hãi, chiến thắng các tâm cảm không tốt, những thái độ bất hảo kiểu chống đối, chê bai, đàm tiếu sau lưng người khác. Tôi nghĩ công-ty là nơi mọi người sống nhiều nhất, giao tiếp nhiều nhất, làm việc nhiều nhất, vậy đấy phải là nơi mọi người muốn sống, không còn lo âu thấp thỏm, không còn ám ảnh bởi cảm xúc, không còn bị lay động bởi người ngoài, không phải dằn vặt với những điều nhỏ nhoi. Lúc nào cũng minh bạch sáng suốt, nhìn thấu tỏ được tất cả mọi chuyện, phân định được tất cả mọi chuyện, ứng xử bằng Trí tuệ. Mọi người sẽ làm được.
Cho nên đến điểm này tôi lại hỏi, Tâm của mọi người viên thành đến đâu rồi? Tôi hỏi để mọi người trả lời bằng hành sự, không phải trả lời bằng miệng. Giống với những người phải rèn luyện được Trí óc, mọi người muốn phá trừ cái không không ẩn khuất ở trong mọi người, thì cần nhất định phải biết trợ giúp đồng sự. Đã thấy ai có biểu hiện gì, từ quy chế mà xem xét họ, hay góp ý với người đấy. Tất nhiên không phải cố tình theo kiểu, bây giờ mình cần nghĩ gì về họ đây, nhưng mỗi điều mọi người mách bảo họ đang có vấn đề, mọi người phải từ quy chế Công-ty mà ứng xử, vượt qua trạng thái lớp vỏ của mọi người mà ứng xử. Nhớ rằng, người luôn thấy mình đảm nhiệm việc bảo vệ các giá trị, quy chế của công ty là người mạnh mẽ nhất.
Ban Giám đốc là muốn mọi người làm tốt từ những việc nhỏ nhất. Đó là khởi đầu lớn cho mọi người.
Mọi người đến công ty, đây là nơi để mọi người vừa làm công-việc, vừa nâng cao bản thân. Những việc mọi người gặp, đảm nhiệm, là để mọi người sửa mình, để mọi người nâng cao mình. Ban Giám-đốc là nơi của những nhân-viên chân chính tin tưởng và phụ trợ. Khi có một chính-sách của Ban Giám-đốc đưa ra, thì chỉ nhân-viên thật sự mới thấy cần suy nghĩ và tìm cách làm cho đúng. Mọi người hãy trông giữ sự trong sạch của Ban Giám-đốc, trở thành những người bảo vệ cho điều đúng đắn, cho quy chế Công-ty, như cửa sổ trông giữ ánh sáng ngập tràn vào mỗi ngày, cả đêm lẫn ngày, từ lúc Mặt trời mọc cho đến khi nó lặn. Hãy nhớ, làm trong công-ty, là nhân viên ấy đã được chọn rồi, đã qua thử thách rồi, đã thử-việc rồi.
Cho nên tôi từng nhắc, mọi người cần có được trái tim Viking, ý tôi là sự can đảm, chiến thắng nỗi sợ hãi, chiến thắng các tâm cảm không tốt, những thái độ bất hảo kiểu chống đối, chê bai, đàm tiếu sau lưng người khác. Tôi nghĩ công-ty là nơi mọi người sống nhiều nhất, giao tiếp nhiều nhất, làm việc nhiều nhất, vậy đấy phải là nơi mọi người muốn sống, không còn lo âu thấp thỏm, không còn ám ảnh bởi cảm xúc, không còn bị lay động bởi người ngoài, không phải dằn vặt với những điều nhỏ nhoi. Lúc nào cũng minh bạch sáng suốt, nhìn thấu tỏ được tất cả mọi chuyện, phân định được tất cả mọi chuyện, ứng xử bằng Trí tuệ. Mọi người sẽ làm được.
Cho nên đến điểm này tôi lại hỏi, Tâm của mọi người viên thành đến đâu rồi? Tôi hỏi để mọi người trả lời bằng hành sự, không phải trả lời bằng miệng. Giống với những người phải rèn luyện được Trí óc, mọi người muốn phá trừ cái không không ẩn khuất ở trong mọi người, thì cần nhất định phải biết trợ giúp đồng sự. Đã thấy ai có biểu hiện gì, từ quy chế mà xem xét họ, hay góp ý với người đấy. Tất nhiên không phải cố tình theo kiểu, bây giờ mình cần nghĩ gì về họ đây, nhưng mỗi điều mọi người mách bảo họ đang có vấn đề, mọi người phải từ quy chế Công-ty mà ứng xử, vượt qua trạng thái lớp vỏ của mọi người mà ứng xử. Nhớ rằng, người luôn thấy mình đảm nhiệm việc bảo vệ các giá trị, quy chế của công ty là người mạnh mẽ nhất.
Ban Giám đốc là muốn mọi người làm tốt từ những việc nhỏ nhất. Đó là khởi đầu lớn cho mọi người.
Chủ Nhật, 5 tháng 6, 2016
Buổi đó
Ngay lúc đó,
anh đã chạm vào trăng. Em cũng đã làm vậy.
Anh vội đi qua trăng, đến thăm một Thiên quốc, đọc những cuốn kỳ thư ngắm những đồ pháp bảo. Ngày ngồi nói chuyện Đạo, đêm nhớ chuyện tu Tiên. Ngày tháng cứ triền miên.
Nhưng giật mình mới nhớ, chẳng thấy em nơi nào. Vội theo ánh sao xa, nhìn về ngày trăng sáng. Chỉ còn buồn tỏa rạng, em bạc tóc chờ anh. Em không còn tóc xanh, tay buồn run biết mấy. Em vén giếng nước trong, lòng mong gặp người cũ.
Những muốn lòng ủ rũ, nhưng đã lạnh mất rồi: Tình đã theo Trăng phôi, nghĩ không hiểu nổi nữa. Ngày đấy em lần lữa, chẳng dám bước lên Trời. Ngày đấy, quên con người, anh về nơi khác lắm. Nhìn em xa vạn dặm, mà ngay mắt anh nhìn. Ôi, Tình ơi là Tình, sao không chìm đáy giếng?
Hẹn mười nghìn năm sau, gặp lại em chốn ấy. Tay cầm một mảnh mây, đặt vào tim khắc khoải.
Mong em hiểu, mãi mãi, Tình chỉ đọa em thôi. Ta đặt mảnh mây rồi, lại về Trời như trước.
Em đừng nhìn dòng nước... Đừng nhớ mảnh trăng xưa
Em đừng mãi tự lừa
Tự đắm trong Mình nữa...
Buổi đó, còn chút lửa,
anh đốt cháy
Duyên
rồi.
Thứ Tư, 1 tháng 6, 2016
Thần khí Volvelle
(Lược thuật từ Gnial)
Dâng hiến đời mình cho Thần là một yếu quyết tu Mệnh cổ. Vì trong thời cổ, toàn bộ Thân Tâm Trí đều nhằm dâng lên để hòa nhập với Vũ Trụ, Thần Thánh, Linh Thiêng.
Đôi bàn tay làm nên vật dụng để dâng sự sống cho Thần nhờ đó sự sống con người được ban ơn. Thân thể vận hành trong trang nghiêm cẩn mật như thể ánh mắt của Thần luôn dõi theo, nghỉ ngơi theo những nhịp lễ hội của Thần, lao động trong những điều kiện khắc nghiệt để vinh danh tinh thần của những Đấng Vĩ đại. Tâm Trí luôn có chân đích đặt dưới ý chí và sự sai bảo của Thần: đó là cội nguồn của sự tồn tại đích thực, hài hòa trong một Vũ trụ và trở thành một phần của Vũ trụ. Chính trong sự hài hòa thấm nhập này, cái ánh sáng khai mở tràn ngập sinh mệnh và mang đến những Tri thức vĩ đại, mà người sau gọi là Tri thức Thần truyền. Mối quan hệ giữa Tri thức Thần truyền và Thân Tâm Trí được gọi là Mật Truyền - những kẻ giả tạo không phụng sự Thần chỉ nhìn thấy lớp vỏ rời rạc, không thấy được ánh sáng Mật Truyền. Chúng có thể tiếp tục cất cao lời về Tri thức của Thần, về Tâm Trí, về Thân thể, nhưng chúng thật như kẻ mù điếc, lời nói ra chỉ có thể đánh lừa những ai cũng mù điếc như chúng.
Khi những cánh cửa sinh mệnh không còn mở ra để nối thông với Vũ trụ thì chỉ còn lại Tri Thức Thần Truyền, mà suốt một thời kì lịch sử dài lâu là chìa khóa duy nhất hòng mở lại sự kết nối này. Tri thức Thần truyền là mảnh vàng ròng văng ra từ một Thiên quốc thánh sạch, là nước mắt của chư Thần, đây là cội nguồn của cảm thức về nước mắt, rằng nước mắt là gột rửa, là sự thánh sạch, là sự biện minh cho điều tốt đẹp, sự biện minh sau cùng, vô ngôn.
Nhưng đã có hẳn những người bảo vệ Tri thức Thần truyền khỏi bị ô uế và lạm dụng bởi những kẻ háo danh, điên loạn, cực đoan. Họ biết rằng, ngay từ sự khởi sinh của họ, Thân thể đã ô uế không có năng lực tiếp nhận Thần tính, bởi vậy họ gợi ý một dạng thức kết hợp thuần túy hơn: một vật dụng được tạo dựng theo Tri thức Thần truyền, nhờ đó không bị ô uế mà ngay từ đầu đã được rửa sạch. Thần-khí (Công cụ mang Thần tính) này có thể chỉ đạo con người thấy được ánh sáng đích thực của Mặt Trời, nghe được âm thanh đích thực của Vũ Trụ, và phụng sự Ý Chí đích thực của Thần Thánh. Volvelle là một nỗ lực như vậy.
"Một người đàn ông được cho là một trong những nhà khoa học- triết học vĩ đại nhất thuốc thế kỷ XIII và XIV tại châu Âu, Ramon Llull của Marjoca đã chế tạo thành công một cỗ máy mang Thần tính. Llull đặt tên nó là Volvelle, lấy từ tiếng Latin là Volvere, có nghĩa là “xoay chuyển”.
"Được làm từ giấy hoặc giấy da, volvelle có các phần di chuyển xoay và chỉ hướng đến các tinh tú trên đồng hồ hay hướng đến Thần tính và những tri thức về sự tồn tại của Thần trên chiếc Volvelle huyền bí. Chúng trông giống dụng cụ đo độ cao thiên thể thời xưa- được làm từ kim loại và được tạo rất sớm trước Volvelle." (Volvelle cấu tạo như hai bánh xe lồng vào nhau, chia thành các cung, mỗi cung tương ứng với một chu trình của Tạo hóa, thể hiện sự liên tục và chuỗi vận hành của Vũ trụ, đây là nội dung của Ý Chí Thượng Đế. Nguyên lý này cũng được Mandala sử dụng.)
"Llull như một triết gia luôn cố gằng hòa nhập với Chúa trời qua những lời cầu nguyện và thiền định, để từ đó lĩnh hội được những điều nằm ngoài nhận thức, hiểu biết của con người. Ông sinh năm 1232 ở Majorca và mất ở nơi đó năm 1315."
"Thần khí Volvelle xác định thời gian vào buổi tối thông qua một quy trình phức tạp,theo đó, thiết bị được xếp thẳng hàng với một ngôi sao ở phía cực; nhắm một mắt lại; đặt điểm giao của các vòng tròn vào vị trí giữa khuôn mặt; cách xa đều hai mắt, và định vị một ngôi sao khác quay quanh ngôi sao trung tâm. Thế nên miễn là bạn không di chuyển đầu hay tay của mình, bạn sẽ có thể xác định được vị trí của mình trong vũ trụ!” (Cũng giống như một hệ cửu cung sử dụng hướng Nam, Volvelle sử dụng Sao Bắc Đẩu làm mốc đánh dấu, ngụ ý sự tồn tại bản nguyên đến từ Vũ Trụ xa vời, xem Bắc Đẩu là cội nguồn của năng lượng bản nguyên)
"Trong volvelle huyền bí, các chữ cái thể hiện cho 9 thuộc tính của Chúa: B= Bonitas (Toàn Mỹ), C= Magnitudo (Vĩ Đại), D= Duratio (Trường Tồn), E= Potestas (Quyền Uy), F= Sapientia (Trí Huệ), G=voluntas (Tự-Nguyện), H= Virtus (Phẩm Hạnh), I= Veritas (Chân thật) và K= Gloria (Vinh Quang). Những từ này có thể được kết hợp theo nhiều cách và cùng với phần còn lại của Volvelle để tạo nên các câu mà theo Llull chứa đựng Chân lý."
“Trong pháp giới hợp lý của nó, sáng kiến cấp tiến mà Llull giới thiệu là thiết lập và sử dụng một chiếc máy làm từ giấy để kểt hợp các yếu tố của quá trình tư duy, chẳng hạn như “các yếu tố ngôn ngữ”. Nhờ vào các hình hình học được nối lại theo những quy tắc rất cụ thể chi tiết, Llull đã cố gắng suy ra tất cả các tuyên ngôn mà đầu óc con người có thể nghĩ đến. Các tuyên ngôn hay những câu lời này tuy vậy chỉ được trình bày dưới dạng những ký hiệu, chính xác như những chuỗi chữ cái.”
(Theo Gnial, dịch từ http://www.ancient-origins.net/)
Dâng hiến đời mình cho Thần là một yếu quyết tu Mệnh cổ. Vì trong thời cổ, toàn bộ Thân Tâm Trí đều nhằm dâng lên để hòa nhập với Vũ Trụ, Thần Thánh, Linh Thiêng.
Đôi bàn tay làm nên vật dụng để dâng sự sống cho Thần nhờ đó sự sống con người được ban ơn. Thân thể vận hành trong trang nghiêm cẩn mật như thể ánh mắt của Thần luôn dõi theo, nghỉ ngơi theo những nhịp lễ hội của Thần, lao động trong những điều kiện khắc nghiệt để vinh danh tinh thần của những Đấng Vĩ đại. Tâm Trí luôn có chân đích đặt dưới ý chí và sự sai bảo của Thần: đó là cội nguồn của sự tồn tại đích thực, hài hòa trong một Vũ trụ và trở thành một phần của Vũ trụ. Chính trong sự hài hòa thấm nhập này, cái ánh sáng khai mở tràn ngập sinh mệnh và mang đến những Tri thức vĩ đại, mà người sau gọi là Tri thức Thần truyền. Mối quan hệ giữa Tri thức Thần truyền và Thân Tâm Trí được gọi là Mật Truyền - những kẻ giả tạo không phụng sự Thần chỉ nhìn thấy lớp vỏ rời rạc, không thấy được ánh sáng Mật Truyền. Chúng có thể tiếp tục cất cao lời về Tri thức của Thần, về Tâm Trí, về Thân thể, nhưng chúng thật như kẻ mù điếc, lời nói ra chỉ có thể đánh lừa những ai cũng mù điếc như chúng.
Khi những cánh cửa sinh mệnh không còn mở ra để nối thông với Vũ trụ thì chỉ còn lại Tri Thức Thần Truyền, mà suốt một thời kì lịch sử dài lâu là chìa khóa duy nhất hòng mở lại sự kết nối này. Tri thức Thần truyền là mảnh vàng ròng văng ra từ một Thiên quốc thánh sạch, là nước mắt của chư Thần, đây là cội nguồn của cảm thức về nước mắt, rằng nước mắt là gột rửa, là sự thánh sạch, là sự biện minh cho điều tốt đẹp, sự biện minh sau cùng, vô ngôn.
Nhưng đã có hẳn những người bảo vệ Tri thức Thần truyền khỏi bị ô uế và lạm dụng bởi những kẻ háo danh, điên loạn, cực đoan. Họ biết rằng, ngay từ sự khởi sinh của họ, Thân thể đã ô uế không có năng lực tiếp nhận Thần tính, bởi vậy họ gợi ý một dạng thức kết hợp thuần túy hơn: một vật dụng được tạo dựng theo Tri thức Thần truyền, nhờ đó không bị ô uế mà ngay từ đầu đã được rửa sạch. Thần-khí (Công cụ mang Thần tính) này có thể chỉ đạo con người thấy được ánh sáng đích thực của Mặt Trời, nghe được âm thanh đích thực của Vũ Trụ, và phụng sự Ý Chí đích thực của Thần Thánh. Volvelle là một nỗ lực như vậy.
"Một người đàn ông được cho là một trong những nhà khoa học- triết học vĩ đại nhất thuốc thế kỷ XIII và XIV tại châu Âu, Ramon Llull của Marjoca đã chế tạo thành công một cỗ máy mang Thần tính. Llull đặt tên nó là Volvelle, lấy từ tiếng Latin là Volvere, có nghĩa là “xoay chuyển”.
"Được làm từ giấy hoặc giấy da, volvelle có các phần di chuyển xoay và chỉ hướng đến các tinh tú trên đồng hồ hay hướng đến Thần tính và những tri thức về sự tồn tại của Thần trên chiếc Volvelle huyền bí. Chúng trông giống dụng cụ đo độ cao thiên thể thời xưa- được làm từ kim loại và được tạo rất sớm trước Volvelle." (Volvelle cấu tạo như hai bánh xe lồng vào nhau, chia thành các cung, mỗi cung tương ứng với một chu trình của Tạo hóa, thể hiện sự liên tục và chuỗi vận hành của Vũ trụ, đây là nội dung của Ý Chí Thượng Đế. Nguyên lý này cũng được Mandala sử dụng.)
"Llull như một triết gia luôn cố gằng hòa nhập với Chúa trời qua những lời cầu nguyện và thiền định, để từ đó lĩnh hội được những điều nằm ngoài nhận thức, hiểu biết của con người. Ông sinh năm 1232 ở Majorca và mất ở nơi đó năm 1315."
"Thần khí Volvelle xác định thời gian vào buổi tối thông qua một quy trình phức tạp,theo đó, thiết bị được xếp thẳng hàng với một ngôi sao ở phía cực; nhắm một mắt lại; đặt điểm giao của các vòng tròn vào vị trí giữa khuôn mặt; cách xa đều hai mắt, và định vị một ngôi sao khác quay quanh ngôi sao trung tâm. Thế nên miễn là bạn không di chuyển đầu hay tay của mình, bạn sẽ có thể xác định được vị trí của mình trong vũ trụ!” (Cũng giống như một hệ cửu cung sử dụng hướng Nam, Volvelle sử dụng Sao Bắc Đẩu làm mốc đánh dấu, ngụ ý sự tồn tại bản nguyên đến từ Vũ Trụ xa vời, xem Bắc Đẩu là cội nguồn của năng lượng bản nguyên)
"Trong volvelle huyền bí, các chữ cái thể hiện cho 9 thuộc tính của Chúa: B= Bonitas (Toàn Mỹ), C= Magnitudo (Vĩ Đại), D= Duratio (Trường Tồn), E= Potestas (Quyền Uy), F= Sapientia (Trí Huệ), G=voluntas (Tự-Nguyện), H= Virtus (Phẩm Hạnh), I= Veritas (Chân thật) và K= Gloria (Vinh Quang). Những từ này có thể được kết hợp theo nhiều cách và cùng với phần còn lại của Volvelle để tạo nên các câu mà theo Llull chứa đựng Chân lý."
“Trong pháp giới hợp lý của nó, sáng kiến cấp tiến mà Llull giới thiệu là thiết lập và sử dụng một chiếc máy làm từ giấy để kểt hợp các yếu tố của quá trình tư duy, chẳng hạn như “các yếu tố ngôn ngữ”. Nhờ vào các hình hình học được nối lại theo những quy tắc rất cụ thể chi tiết, Llull đã cố gắng suy ra tất cả các tuyên ngôn mà đầu óc con người có thể nghĩ đến. Các tuyên ngôn hay những câu lời này tuy vậy chỉ được trình bày dưới dạng những ký hiệu, chính xác như những chuỗi chữ cái.”
(Theo Gnial, dịch từ http://www.ancient-origins.net/)
Phù Vân, Thế gian (03)
Thằng bé vừa đi vừa suy ngẫm, trông nó đã lớn hơn nhiều. Đoạn nó ngẩng lên trời rồi nói: "Sư Phụ,
thung lũng này thật lạ kì, đá cứng mà chạm vào không thấy cứng, cây xanh mà bóng dưới nóng không xanh, nước trong mà chảy không trong, Mặt trời trên cao mà không thấy nóng, đất mềm mà đi không thấy mềm, tuồng như là Tiên cảnh?"
"Hảo hài tử, xem ra ba năm học Đạo con không uổng. Đây là Vô Lậu Pháp giới của hai vị Âm Dương Tiên." "Xin Sư
Phụ dạy cho con biết."Tam vô
lậu thuật bao gồm vận hành ba
pháp-thuật Giới Định Huệ. Những vị ở đây đã đạt đến chỗ Giới Định Huệ đồng nhất, nên có thể tạo
ra Tiên Cảnh như vậy." "Sư
Phụ dạy con rằng Giới Định Huệ là cái lí chí cao của Đức Thích Ca, sao lại tạo ra Tiên cảnh thay vì Phật giới được thưa Sư Phụ?" Minh Không đáp: "Ta có nói ngươi cũng không hiểu,
khi nào ngươi đạt đến chỗ Giới Định Huệ đã như nhất ngươi mới hiểu." "Sư Phụ, con tu Đạo, sao lại cần thành Phật
vậy?" "Ta bảo ngươi khi đạt đến Giới Định Huệ như nhất, chứ đâu bảo ngươi theo Giới Định Huệ mà làm chỉ đạo tu luyện?" "A, đó chính là vấn đề quả-vị thưa Sư Phụ."
"Có Ngộ tính." Khi ấy hai người đã tiến vào trung tâm của thung
lũng. Trước mặt hai người hiện ra hai căn nhà
mờ mờ.
Thằng bé gật gù tán thưởng:
"Thung lũng này cao mà không kiêu, lên xuống mà vẫn có Rốn khí, hai căn nhà
phía xa kia ngự ở Giếng của khu vực này mà trông vẫn bình
hòa an định, đã đạt đến chỗ chí giản chí dị của phong thủy, chính xác mà không phô
trương." Minh Không lắc đầu: "Ngươi chớ vì chút kiến thức học được mà sinh kiêu tâm, đây là nơi ngự của hai vị Chân nhân, dù ngươi có hiểu ra chút nguyên lý, vẫn
chưa phải là chân tướng mà hai vị ấy đặt định. Quen buông lời tán thưởng tất quen nói câu phán xét, sau này ngươi đắc tội với Thần
Tiên, thì ai cứu nổi ngươi?" Thằng bé dạ to, nhưng trong lòng lại
nghĩ: "Sư Phụ thật khắt khe.
Ta nói lời đúng, lời đúng vô tội, sao lại bảo ta gây họa
được? Trong ba năm theo Sư Phụ, tinh thông
Kỳ Môn Độn Giáp, luyện đan bách thuật, lẽ nào một sự vụ phong
thủy thế này mà ta không nhìn ra, cũng không được đánh giá." Nó nghĩ đến đó trong lòng có hơi ấm
ức, nhưng cảnh tượng trước mặt thật kì thú làm nó lập tức quên đi. Tuy nhiên, quên đi là tạm thời, cái tâm chưa đổi
tất có phát tác. Ấm ức cũng là Tình, chỉ là xem
Tình phát tác hay che giấu đến đâu thôi. Cho nên ở mức
của nó, Huệ không phải là Giới, càng không phải là Định, hãy còn xa mới đến Vô Lậu.
"Sư phụ, đây là
đâu vậy? Hai căn nhà kia thật kì quái, một xanh một đỏ, hẳn hai người trong đó rất vui tính." Minh Không chắp một tay trước ngực, ánh mắt sâu thẳm sáng ngời, gương mặt điềm tĩnh phi thường, cảm giác
giữ một thung lũng đầy nắng thân ông như khối
bạch ngọc, đoạn cất tiếng:
"Nhị vị lão huynh, xin trông hộ đồ đệ của ta, môn trung hữu sự, phải phiền đến nhị
vị." Vừa nói xong thì thấy
hai vị đi ra từ cửa sổ hai căn nhà, nhìn kĩ mới thấy cửa chính đều bị đóng chặt chặn lại. Hai người này trông rất kì quái, một người toàn thân màu xanh lam, một người toàn thân màu đỏ rực. Người xanh lam gương mặt trang nghiêm,
ánh mắt trầm hòa, đứng hơi lơ lửng trên mặt đất. Còn người màu đỏ khuôn mặt sáng rỡ, tươi cười nhưng ẩn chứa một nét to lớn khó diễn đạt, hai bàn chân dựng đứng, chỉ có các ngón
chân cắm thẳng vào mặt đất. Thằng bé thấy vậy há hốc mồm nghĩ: "Hai người
này kì dị mà công phu thật cao. Người kia đi lại lơ lửng trên mặt đất mà gương mặt vẫn bình
hòa, đã đến chỗ đăng phong, Âm
Nguyên ngự trị Dương khí, người còn lại chân dựng đứng, Nguyên Dương đã thay thế Âm khí hoàn toàn, cứ như đã thành Tiên rồi vậy."
Người màu xanh cười nhẹ, giọng như gió thu đi qua kẽ lá, nói: "Vất vả cho Đạo huynh rồi, sự vụ thật phức tạp." Người màu đỏ cất tiến nghe như chuông ngân: "Thật sung sướng, đời Đạo huynh nay đây mai đó phụng
sự Tiên Môn, Đạo Pháp, được Trời Đất chứng cho, muôn người kính ngưỡng." Vị màu
xanh quay sang vị màu đỏ cười bảo: "Huynh
ghen tị cảnh ấy sao?" "Sự đó không Thật vậy sao?" "Sự là vậy, nói ra thì không đúng là vậy. Vì sự vụ có lí của sự vụ, chỉ người quan đới với sự vụ mới
hiểu tính Chân của sự vụ ấy. Người không liên đới, càng nói càng bất Chân." "Ngươi lạ thật, sự vụ vốn có tính Thiện, cho nên cần người ta liên đới, cách biệt nhưng đồng nhất là lẽ của Đạo, chẳng phải thế sao?" Vị màu xanh lại mỉm cười đáp: "Làm việc cốt ở Chân, đó là viên toàn mà không gây lỗi."
"Ta lại cho rằng hành sự cốt
ở Thiện, cứu độ sinh mệnh chính là nâng cao uy đức của mình." "Huynh muốn lấy cái tư kiến của mình nói
về Đạo
sao?" "Vậy đệ định đem tư kiến của mình đánh giá ta sao?" Minh Không
cười lớn, tiếng cười lồng lộng như gió trời đập vào vách núi:
"Sự vụ là sự vụ ta cần làm ấy mà. Hai vị việc gì phải nhắc khéo ta như vậy?"
Vị màu đỏ cười tinh quái đáp:
"Minh Không có trí tuệ lớn, chỉ e trí tuệ không phải Minh Không." Minh Không nghiêm mặt, mắt khẽ nhắm hờ, cất tiếng: "Cảm ơn
Dương Tiên, trí huệ là do đồng hóa với Đạo mà viên đắc, chỗ khiếm khuyết của ta mong là không làm tổn thương sự vụ này." Vị màu xanh
chắp tay tiếp lời: "Minh Không
khiêm cung, thật có trang nghiêm.
Chính với Thiên Địa, Ứng với Đạo Pháp, dẫu là khuyết cũng đầy, dẫu là nhược cũng cường."
Thằng bé nghe mấy lời đối đáp ấy nhất thời khủng hoảng, ngồi bệt xuống đất nghĩ: "Đạo lí cao thâm, Đạo lí cao thâm. Họ dường như hiểu nhau, dường như khác nhau, tựa như cùng từ một cây mà ra, dù là nhánh khác nhau vẫn đồng nhất. Mà tuồng như vạn vật thiên địa đều vậy." Vừa nghĩ đến
đó vị màu
xanh chỉ thằng bé nói: "Cho
nó làm đệ tử chúng tôi hả?" Minh Không cả cười: "Âm Tiên có
nhã ý, liệu nó có phúc phận ấy không?" "Lần
này ông đi trừ diệt các ác linh dư đảng của Địa Ngục Ác Thần và Vạn Ác, hợp nhất trong một sinh mệnh mà giáng thế, chưa chắc đã về đúng không?" "Đạo huynh quá lời" "Thằng bé này có duyên phận với chúng tôi." Đến khi ấy thằng bé ngồi dậy lắc đầu ứa nước mắt nói: "Xin Sư Phụ cho con theo chân, dẫu là tử cảnh con cũng không từ
nan." Dương Tiên chỉ thằng bé nói: "Nó có lòng nghĩa hiệp, nhưng lòng nghĩa hiệp lại đầy tình. Tất có lúc mượn danh Đạo mà thỏa lấy tình. Minh Không, ông dạy nó Trí mà không dạy nó Huệ đấy chăng?" "Nó không học được Huệ thì tôi dạy nó thế nào vậy?" "Ông là Sư Phụ, không dạy được nó thì ai dạy được nó?" "Huệ là Đạo tâm mà sinh ra,
tôi dạy sao đây?" "Ông
có Huệ, sao không truyền cho nó? Đến Đạo còn truyền được, sao Huệ lại không truyền được?" "Dương tiên, chỉ e có lòng trao nhưng lại
không dám nhận. Nó gần Huệ mà không cảm được Huệ, thì tôi trao nó thế nào?"
Âm Tiên xen vào: "Minh Không, nó không nhận
là có phần trách nhiệm của ông đấy chứ?" "Không cứ mưa thì ướt, gia ân cho nó đâu có nghĩa nó đắc được?" "Vậy sao còn gia ân cho nó?" "Có phải là vì nó mà gia ân đâu?" "Nhưng nó được
gia ân đúng chứ?" Minh Không bật cười ha hả. Đoạn chắp tay nhìn hai vị Âm Dương Tiên
mà rằng: "Muốn nhắc Không này
chuyện vô vi, xin lĩnh ý."
Dương Tiên bất chợt đổ hàng lệ, lại chắp tay mà rằng: "Ngài đi lần này là vì Thiên Địa, chúng tôi chỉ biết lấy chút
Đạo mà tống
tiễn." Âm Tiên cũng chắp tay
mà rằng: "Dạy thằng bé này không phải vì nó,
ắt có ngọn
nguồn lớn, chúng tôi không phụ ngài đâu." Minh Không lại chắp tay chào. Thân hình như một làn
khói mỏng mờ dần rồi tan mất. Âm
Dương Tiên cùng nhìn đến thằng bé, lúc ấy nước mắt đang tràn ra trông thật đau lòng, đoạn lần lượt
nói:
"Nó ắt học được"
"Chúng ta ắt dạy được nó"
"Liệu nó có làm được không đây?"
"Chúng ta có giúp nó được không đây?"
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)