Phẫn Nộ Đại Tôn Giả

Phẫn Nộ Đại Tôn Giả

Thứ Năm, 12 tháng 5, 2016

Nói chuyện nhân ngày Sinh nhật Sư Phụ

(Bài này đăng lại từ buổi nói chuyện của một Người anh có hân hạnh được biết tới)


Anh em thân mến


Tu luyện, đối mặt với Khổ, trong Cô độc, cái cô-độc thực tại nhất, dằn vặt trong giả tướng để thấy được Chân-tướng, là điều vĩ đại và lớn lao. 


Trong bài
 Khổ Kì Tâm Chí, Hồng Ngâm I, Sư Phụ có viết:

 “Lao thân bất toán khổ”, (Dịch: cái Thân này có cực nhọc thế nào cũng chẳng thấy khổ), tức là cái khổ của Thân, Thân phải làm nhiều việc nên khổ thì đừng có đếm kể gì cả. “Tu tâm tối nan quá” (Dịch: Việc sửa Tâm tột cùng khó cũng phải vượt qua), tu Tâm mới là cái thực sự khó vượt qua, mới là điều cực kỳ khó vượt qua, “tối nan”. Đấy là cái Tâm trong quá trình tu luyện. Cho nên người tu cổ, ngay trong bài Sư Phụ giảng “Bách khổ nhất tề giáng” (Dịch: Hay dẫu là trăm thứ khó nhọc thử thách ma luyện có đồng loạt giáng), trăm cái khổ khác nhau cùng một lúc giáng xuống. Đối với Sư Phụ Công Pháp thì chỉ nhìn ở góc độ “Khán kỳ như hà hoạt”, (Dịch: Há lại không tiếp tục những gì đang làm),
 tức là để xem xem mọi người sẽ vượt qua thế nào. Sư phụ Công Pháp luôn luôn nhìn, các Linh Thần vẫn luôn luôn nhìn mọi người, để xem cái điểm đấy, cái Tâm đấy, cái Thân đấy, cái khổ nó đến thế, Thân Tâm đều đang chịu khổ, để xem mọi người vượt qua thế nào, có vượt qua được cái mức gọi là “Tồn Chân Thiện Nhẫn tâm trung hữu Đạo” không? (Dịch: Đó là luôn nghĩ theo Chân Thiện Nhẫn, trong Tâm có Đạo). Xem trong cái lúc khổ đến mức ấy, mà Tâm vẫn có thể giữ đươc Chân Thiện Nhẫn của cao tầng hay không? Còn Chân Thiện Nhẫn của người thường, mọi người đếm kể gì. Chân Thiện Nhẫn ở cao tầng, có thể duy hộ Pháp lý ở trong mình, duy hộ những đặc tính, Chân tính ở trong mình, Thiện tính ở trong mình. Trong lúc đấy mà duy hộ được, giữ được phần cao tầng ở trong mình thì lúc đấy tính là đã rất khác rồi. Thật ra mọi người đã là rất xuất sắc, có điều là vẫn phải xuất sắc hơn.

          Mọi người biết đó, cả chu trình từ khi chúng ta gặp nhau, từng bước từng bước, có rất nhiều khó khăn. Huyền thuật, Pháp tướng nếu như để nguyên bản thì sẽ rất khó tu luyện, vì nó chỉ dành cho một số người. Thực ra rất khó, đấy là nói về mặt nhân gian, còn nói về sứ mệnh, về duyên kiếp, là tìm từng người một, mà sử dụng những điều đấy là rất khó tìm đến nhau. Nhưng rất may là chúng ta đều ở trong thời Chính Pháp, và đúng thệ ước chúng ta gặp nhau ở đây, trong Chính Pháp mà tìm thấy nhau. Mọi người trong Kỳ Môn nhưng cũng là trong Chính Pháp. Hãy phó xuất cho Chính Pháp, thực hiện những sứ mệnh của tầng cảnh, lúc đấy lại có những điều khác nảy sinh, lại nhận thức thêm về chính bản thân mình, về duyên nghiệp, quá quan ở các tầng thứ. 


          Chúng ta ở đây đều nợ Ơn Đại Pháp, Ơn rất lớn. Thật ra nói nợ Ơn Đai Pháp là cái cách nói chung, còn người mà chúng ta tôn kính nhất, chúng ta nợ Ơn nhất là Sư Phụ Lý Hồng Chí. Trong sách Pháp, Sư Phụ thường xưng là "lão sư", nghĩa là Thày, để ai cũng được học Pháp, ai cũng được đọc Pháp, ai cũng có cơ hội đắc Pháp nếu có Phật tính. Lão sư là đặt trong quan hệ với người học, còn đặt trong quan hệ với Đệ-tử, thì là Sư-Phụ. 


          Ngày 13 tháng 05 là ngày sinh Thày Lý Hồng Chí. Nhưng điều quan trọng nhất, đây là ngày Sư Phụ giáng thế ở trong kiếp này. Tất cả những phần của Sư Phụ ở trong mọi kiếp, trong lịch sử lâu dài, rất lâu dài, lâu dài đến mức nói ra thì mọi người rất bất ngờ, nhưng có rất nhiều phần của Sư Phụ, ở trong các mức khác nhau kết duyên với tất cả con người ở trong nhân gian, kết duyên với tất thảy mọi sinh mệnh ở trong nhân gian. Mọi người có thể hiểu là sinh mệnh của Sư Phụ phân tán đến mức, mọi sinh mệnh ở trong nhân gian, mọi sinh mệnh ở trong Tam giới kể cả gỗ đá, tất cả các chủng sinh mệnh từ thấp bé nhất đến lớn lao nhất mà tồn tại ở trong Tam giới thì đều có kết duyên với Sư Phụ. Và có thể vì cái kết duyên ấy mà ngày hôm nay gặp được nhau. Đây là điều vĩ diệu, vượt ngoài tầm những điều mọi người có thể hiểu được. Thực ra nói nguyên lý nghe thì rất đơn giản, mọi người thử liễu giải sẽ thấy rất lớn lao, rất khó hiểu, không phải là điều người thường làm nổi, không phải điều mọi người có thể tưởng tượng nổi.


          Ngày 13 tháng 05, mốc ở trên dương thế, dương gian, không chỉ là mốc ngày sinh bất kỳ. Tất nhiên mọi người vẫn nói nhân gian là giả tướng, nhưng nhân gian là giả tướng là do các chấp trước và nghiệp lực. Còn ở tầng nhân gian này, bỏ đi các chấp trước và nghiệp lực thì chân tướng ở tầng nhân gian này cũng sẽ xuất hiện. Sẽ xuất hiện những con người tương ứng với đặc tính của Pháp ở tầng bề mặt (Thế gian Pháp), và tầng bề mặt sẽ thể hiện được Chân tính của nó. Tầng bề mặt này còn thực ở điểm đấy, còn thực khi còn các Giác Giả, còn độ nhân, còn tu luyện, còn liên quan đến Pháp Vũ Trụ, thì tầng này trở nên thực hơn và sẽ phá trừ tất cả những cái ác, cái giả, Bất Nhẫn. Đấy là điều rất vĩ diệu. 


          Ngày Sư Phụ sinh ra là ngày bắt đầu nhân gian thay đổi, là ngày rất trân quý. Mọi người học Pháp, mọi người biết là từng phần trong mọi người thay đổi, từ sâu thẳm thay đổi.


          Chia sẽ mọi người một điều là chúng ta ở đây vì Đại Pháp, theo nghĩa là học Pháp, đắc Pháp. Có một điều khác nữa chia sẻ với mọi người, nằm ở trong Hồng Ngâm I, bài Pháp Dung, Pháp có thể bao dung được tất cả, trong bài Sư Phụ ghi là:

Dung Pháp
Phật quang phổ chiếu
Lễ nghĩa viên minh
Cộng đồng tinh tấn
Tiền trình quang minh
1992 niên 12 nguyệt 27 nhật

(Dịch)

Biểu hiện của Pháp
Phật quang chiếu khắp
Lễ nghĩa viên minh
Cùng nhau tinh tấn
Con đường trước mặt quang minh.

Cá nhân tôi hiểu thế này. Hai câu đầu, mọi người đã biết ý nghĩa, còn có một ý nghĩa sâu sắc là khi mà ánh sáng của Phật, Phật quang tức là Pháp, quan hệ giữa Sư Phụ và Đại Pháp rất đặc biệt, mọi người cứ coi như một nội hàm nhất định: Phật quang chính là Pháp. “Phật quang phổ chiếu” tức là khi ánh sáng của Pháp chiếu đến đâu, thì nơi đó “Lễ nghĩa viên minh” tức là mọi sinh mệnh đều được Chính lại cho đúng, đều được chỉnh lại cho đúng, đều được trở về đúng bản nguyên, đều được cứu độ đấy gọi là “Lễ nghĩa viên minh”. Hai câu tiếp theo, “Cộng đồng tinh tấn”, cộng tức là cùng với nhau, đồng tức cùng một lúc, “Cộng đồng tinh tấn” thì nhiều người hay dịch là mọi người tinh tấn, nhưng nó có nghĩa là tất thảy các sinh mệnh đều chuyển hóa lên mức cao hơn.

Ở trong tu luyện Kỳ Môn, có bốn điều cần phải ghi nhớ, “Cải” tức là thay đổi, thay đổi từ bộ phận, “Biến” là thay đổi cái toàn thể, “Chuyển” là chuyển động của toàn bộ sinh mệnh của một thể hệ và “Hóa” chuyển hóa các sinh mệnh, bộ phận của tầng cảnh đấy. Cải Biến Chuyển Hóa, bốn mức độ, không phải là điều có thể dễ dàng diễn ra được, nó còn liên quan đến các tầng thứ khác nhau, sự liên đới các tầng thứ Pháp lý với nhau, quan hệ giữa một sinh mệnh với một tầng thứ đấy hết sức khó khăn. 

Với anh em, thì nên hiểu thế nào?  Pháp có thể “Lễ nghĩa viên mình” là bao gồm “Cộng đồng tinh tấn” tức là tất thảy các sinh mệnh từng lớp từng lớp, của các từng tầng thứ đột ngột cùng đi lên tức là Cải Biến Chuyển Hóa, bốn mức đấy thì đó là điều vĩ diệu vô tận. Nói thì mọi người sẽ thấy hơi lý thuyết và bề ngoài nhưng mọi người về sau càng ngộ, sẽ càng thấy điều này hết sức lớn lao. Còn câu cuối cùng, “Tiền trình quang minh” tức là tương lai sắp tới, cái tiến trình của tương lai sắp tới sẽ cực kỳ sáng rỡ. Lúc đấy mọi sinh mệnh trong Pháp đều sẽ có chuyển hóa hết sức lớn lao, của quá trình Cải Biến Chuyển Hóa này, mọi người thực sự có thể thấm được. Bởi vì Cải Biến thuộc về Mệnh, Chuyển Hóa thuộc về Tính, Tính Mệnh ở mỗi tầng đều đang thay đổi, Tính Mệnh của mỗi con người đều đang thay đổi. Mỗi con người ở trong bản sự là con người đều có Tính Mệnh của mình, Tính Mệnh ở bề mặt này cũng thay đổi, thay đổi dần dần trên mọi phương diện. 

Nhân gian này rất thực, đau khổ quá thực tại, nhân gian quá thực tại, mọi vấn đề lợi ích, danh vọng đều thực tại, phải làm sao bây giờ? Nếu như mọi người đi trên con đường tự mình, mọi người đã từng sống cuộc sống nhân gian này, thực ra không có lối thoát ở trong đấy, chỉ có điều lúc thì chìm vào điều này, lúc thì chìm vào điều kia, cứ liên tục như vậy, liên miên bất tận. Mọi người đã tu luyện rồi, đến một mức mọi người nhìn lại thì sẽ thấy cuộc sống trước khi theo Phật là hết sức đau khổ, hết sức chìm đắm. 

Nên mới nói là ngày Sư Phụ ra đời là ngày mà Pháp đến thế gian này, bắt đầu một tiến trình mới chuẩn bị, cho đến năm 1992 Pháp được chính thức truyền ra, năm 1996 Chuyển Pháp Luân chính thức được in. Đấy là quá trình, những mốc các sinh mệnh đang đồng loạt đi vào quá trình gọi là "Cộng đồng tinh tấn". Tức là tất thảy mọi sinh mệnh ở các tầng thứ cùng thay đổi, cùng Cải Biến Chuyển Hóa, Tính Mệnh cùng thay đổi, và tiến trình tương lai của mọi sinh mệnh đang cùng một lúc thay đổi, nhân gian vốn đã thay đổi. Cho nên ngày này vô cùng thiêng liêng. Mọi người học Huyền Thuật biết độ số tính theo năm rất quan trọng, chẳng hạn 20 năm truyền Pháp là một mốc mới, từng năm đi qua, năm này qua năm khác là từng mốc mới. Từ lúc Sư Phụ sinh ra mỗi năm mỗi năm, đến mỗi nhịp, đây là mỗi nhịp của tiến trình toàn bộ nhân gian thay đổi, toàn bộ sinh mệnh thay đổi.

Thái độ của sinh mệnh đối với Chính Pháp quyết định sự tồn tại của sinh mệnh ấy trong vũ trụ mới. Tất nhiên việc tôn kính Sư Phụ và phụng sự Chính Pháp đến đâu, là tùy thuộc vào tầng thứ của mỗi người. Bởi vì tầng thứ khác nhau thì tôn kính ở các mức khác nhau và cũng phụng sự ở các mức khác nhau. Đấy chính là vị trí mọi người đặt định, trong tiến trình mọi người tu luyện, cảm ngộ Sư Phụ và Đại Pháp.

Đến cả các Giác Giả và các Linh Thần cũng cần chuyển hóa qua mọi người và qua việc mọi người đắc Pháp. Tôi nhắc lại là Đại Pháp là vĩ diệu vô cùng, Ơn của Sư Phụ là không thể đếm kể, mọi người hãy nhớ kĩ điều này. Đại Pháp tác động đến mọi người, chủ yếu tác động vào phần chuyển hóa, là phần Tâm, trong bài Pháp Luân Đại Pháp, Sư Phụ có giảng 2 câu:

Pháp Luân Đại Pháp
Công tu hữu lộ tâm vi kính
Đại Pháp vô biên khổ tố chu
1992 niên 7 nguyệt 24 nhật

(Dịch)

Pháp Luân Đại Pháp
Việc tu luyện có đường Tâm là trực chỉ
Đại Pháp thật vô biên chính là thuyền.

Mỗi điều mọi người đang vượt qua ở trong các đau khổ của cá nhân mình, đau khổ ở mọi tầng mức, một chấp trước nhỏ nhất cũng liên quan đến đau khổ. Chấp trước nhỏ nhất cũng liên quan đến nghiệp lực, chấp trước ở mọi mức đều liên quan đến nghiệp lực ở mọi mức, chấp trước và nghiệp lực đấy chính là những bất hạnh, đau khổ. Mọi người có cảm nhận được hay không thì nó vẫn là như vậy, dẫn mọi người từ đau khổ này sang đau khổ khác. Đau khổ này không phải hiểu theo nghĩa nhân gian là cảm giác đau khổ, khóc lóc, mệt mỏi, đau đớn. Đấy chỉ là một hình dạng của đau khổ, đau khổ có rất nhiều hình dạng. Bị trượt ra khỏi bản nguyên sống cuộc sống không phải là mình, bị trôi dạt trong các chấp trước, đấy là cực kì đau khổ. Người nào càng đi trên con đường đấy, càng hiểu thế nào là đau khổ.

Trong ngày sinh nhật Sư Phụ, tôi nhắc lại, đây là ngày rất đặc biệt, đặc biệt với tất cả mọi sinh mệnh ở trong nhân gian. Thêm một năm nữa, một niên kì mới, trong cái nhịp 365 ngày mới, thì đây chính là nhịp mới của nhân gian, toàn thể sinh mệnh đang ở trong quá trình "Cộng đồng tinh tấn", tức là cùng một lúc mà tinh tấn. Mọi người càng cảm ngộ Sư Phụ, cảm ngộ Đại Pháp, mọi người sẽ thấy là các sinh mệnh cũng đang chuyển hóa lên một mức mới. Những mốc thế này là rất hiếm, bởi vì 365, 366 ngày thì mới xảy ra một lần, đó là các mức độ nâng nhân gian lên một mức nhất định, đây chính là thời khắc rất trân quý. Trong ngày này hãy thật sự cảm nhận, thật sự trân trọng, thật sự tôn kính, mang Ơn Sư Phụ và Đại Pháp, cảm nhận sự sâu sắc ở trong lòng bằng toàn thể sinh mệnh của mình cùng một lúc, từ vi quan nhất đến lớn lao nhất. Hãy cảm nhận điều này thật rõ. Đây sẽ là một quà tặng của Đại Pháp đến mọi người, “Cộng đồng tinh tấn/ Tiền trình quang minh” điều đang chờ đợi mọi người. 


Thứ Hai, 9 tháng 5, 2016

Phúc Âm John (17, 1-26)



Lời cầu nguyện của Ðức Giêsu

(1) Thế rồi Ðức Giêsu ngước lên trời và cầu nguyện:
"Lạy Cha, giờ đã điểm!
Xin Cha cho Con Cha được tôn vinh
để Con Cha tôn vinh Cha,

(2) Thật vậy, Cha đã ban cho Con của Cha
quyền vượt xuất mọi phàm nhân
là để Con của Cha ban sự sống đời đời
cho tất cả những chiên
mà Con nhận lĩnh từ lệnh Cha.

(3) Sự sống đời đời đó
là được nhận biết Cha,
Thiên Chúa đơn nhất và chân thật,
và được biết Ðấng Cha đã sai đến,
là Giêsu Kitô.

(4) Phần Con, Con đã tôn vinh Cha trên mặt đất,
khi hoàn tất công trình
Cha trao Con làm.

(5) Vậy lạy Cha,
giờ xin Cha cho Con được tôn vinh và bên Cha:
xin ban cho Con vinh quang
mà Con vẫn được hưởng bên Cha
trước khi xuống thế gian.

(6) Những kẻ được Cha chọn trong thế gian
và ban cho Con,
Con đã cho họ biết danh Cha.
Họ thuộc về Cha,
Cha đã ban họ cho Con,
và họ đã tuân giữ lời Cha.

(7) Giờ đây, họ biết rằng
tất cả những gì Cha ban cho Con
đều do bởi Cha,

(8) vì Con đã ban cho họ
Lời mà Cha ban cho Con;
họ đã nhận những Lời ấy,
họ thật biết rằng
Con từ Cha mà đến,
và họ tin rằng Cha đã sai Con.

(9) Con cầu nguyện cho họ.
Con không cầu nguyện cho thế gian,
mà cho những sinh mệnh Cha ban cho Con,
bởi lẽ họ thuộc về Cha.

(10) Tất cả những gì của Con đều là Cha ban,
tất cả những gì của Cha, Con đều gìn giữ,
và Con được tôn vinh nơi họ.

(11) Con không còn ở trong thế gian nữa,
nhưng họ còn phải trong thế gian;
phần Con, Con xin quỳ phụng dưới chân Cha.
Lạy Cha chí thánh,
xin gìn giữ các môn đệ
trong danh Cha mà Cha đã ban cho Con,
để họ có ngày quy nhất.

(12) Khi còn ở với họ,
Con đã gìn giữ họ
trong danh Cha mà Cha đã ban cho con.
Con đã canh giữ,
để không một ai trong họ phải hư mất,
trừ đứa hư hỏng,
để ứng Lời Kinh Thánh.

(13) Bây giờ, Con xin đến phụng dưới Cha,
và Con kêu những điều này
khi đang ở thế gian,
để họ được hưởng trọn vẹn
niềm vui của Con.

(14) Con đã truyền lại Lời của Cha cho họ,
và thế gian đã ghét họ,
vì họ không còn thuộc về thế gian,
cũng như Con đây không thuộc về thế gian.

(15) Con không xin Cha mang họ khỏi thế gian,
nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần.

(16) Họ không thuộc về thế gian
cũng như Con đây không thuộc về thế gian.

(17) Xin Cha lấy cho họ được thánh hiến nhờ điều Chân nơi Cha
Lời Cha là Chân.

(18) Như Cha đã sai Con đến thế gian,
thì Con cũng sai họ đến thế gian.

(19) Con xin thánh hiến chính mình Con cho họ,
để nhờ điều Chân đó, họ cũng được thánh hiến.

(20) Con không chỉ cầu nguyện cho những người này,
nhưng còn cho những ai
nhờ lời họ mà tin vào Con,

(21) để tất cả quy nhâts,
để được, lạy Cha, như Cha ngự trong Con và Con ở trong Cha
để họ cũng ở trong chúng ta.
Như vậy, thế gian sẽ tin rằng
Cha đã sai Con.

(22) Phần Con, Con đã ban cho họ vinh quang
mà Cha ban cho con,
để họ được quy nhất
như con thuộc về Cha như Một:

(23) Con ngự trong họ như Cha ngự trong con,
để họ được hoàn toàn quy nhất;
như vậy, thế gian phải biết
là chính Cha đã sai Con
và Cha yêu thương họ
như đã yêu thương Con.

(24) Lạy Cha,
con nguyện rằng dẫu ở đâu,
thì những người Cha đã ban cho Con
cũng ở đó với Con,
để họ chiêm ngưỡng vinh quang của Con,
vinh quang mà Cha ban cho 
vì Cha đã yêu thương Con
trước khi tạo thành thế gian.

(25) Lạy Cha là Ðấng chí thượng Công Chính,
thế gian đã không biết Cha,
nhưng con, con đã biết Cha,
và những người này đã biết
là chính Cha đã sai Con.

(26) Con đã cho họ biết danh Cha,
và sẽ còn cho họ biết nữa,
để ơn Cha đã ban Con sẽ ngự trong họ,
và Con cũng ngự trong họ."

Lại nói chuyện về J


 "Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin"
 "Ðặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Ðưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Ðừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin"

Trong Kinh Thánh Tân ước, Phúc Âm John, có một đoạn kể chuyện sau khi Đức Jesus hồi sinh rồi, mà các tông đồ còn chưa tín hẳn điều đó:

 "Một người trong Nhóm Mười Hai, tên là Tôma, cũng gọi là Ðiđymô, không ở với các ông khi Ðức Giêsu đến. Các môn đệ khác nói với ông: "Chúng tôi đã được thấy Chúa!" Ông Tôma đáp: "Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin".

 Khi đọc đến đây anh bỗng nghĩ về sự này: khi nghe tin Đức Jesus bị đóng đinh, điều đầu tiên họ nghĩ là gì nhỉ? Anh chỉ muốn nghĩ đến điều này: có ai trong đó đã ngân vang trong đầu tiếng nói, "Thày bất tử, Thày sẽ hồi sinh từ cõi chết để xướng danh Cha của Người." Có ai dám tin vào phép màu của Đấng Hằng Sống, ai tìn vào lời Thày mình đến thế nhỉ?

Không ai, đáng buồn thế. Anh chẳng muốn nghĩ Đức Jesus đã nghĩ gì. Có thể Ngài cũng như anh.

Lời của ông Tô-ma mới thật buồn: "Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người...tôi chẳng có tin." Nếu không thấy cái chết của Người, ngươi không tin Người hồi sinh, Người Hằng Sống? Ngươi tin nỗi sợ hơn điều cao quý, sức mạnh nhân gian hơn Thánh Thần, cái chết hơn là Sự Sống? Ngươi tin vào nỗi yếu đuối nơi ngươi hơn điều hùng cường từ bầu trời cao? 

Đoạn tiếp trong Kinh Thánh thật tuyệt vời:

Tám ngày sau, các môn đệ Ðức Giêsu lại có mặt trong nhà, có cả ông Tôma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Ðức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: "Chúc anh em được bình an" Rồi Người bảo Tôma: "Ðặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Ðưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Ðừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin". Ông Tôma thưa Người: "Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!"  Ðức Giêsu bảo:
"Vì đã thấy Thầy, nên anh tin.

Phúc thay những người không thấy mà tin!"


"Các cửa đều đóng kín" - Vì sao thế nhỉ? Để phép lạ của Đức Giê-su viên toàn, hay do lòng oán thán nghi ngại của những tông đồ hoảng sợ đa nghi?

Nhưng Ngài đã đến và đứng giữa các anh, với lời chúc cho nỗi sợ cực nhọc của anh em. Có điều gì thiện lành và tinh tế đến thế, Ngài bảo ông Tô-ma đặt ngón tay lên những vết thương mà vì anh em, vì nhân gian Ngài đã chịu. Những vết thương anh em sẽ không bao giờ hiểu.

Đừng cứng lòng nữa Tô-ma, phải đấy, vì khi biết đó là Thày rồi ngươi vẫn không tin. Có chạm vào vết thương đó rồi ngươi vẫn không tin. Vì ngươi đâu có tin vào Thày, đâu tin vào Chúa Cha, đâu tin vào điều thiêng liêng nào!

Tô-ma, những ngày lang thang trong nhân gian ngươi có buồn không? Đi đến tận Ấn Độ để trốn tránh sự yếu đuối nơi mình, hòng tìm lại chút Thần khí đã không bao giờ có nữa, ngươi có sợ không? Ngươi có thấy mắt Thày dõi theo ngươi không?

Tô-ma, vào giây phút ngươi muốn đặt ngón tay vào vết thương của Người, ngươi nghĩ gì vậy, có hồi hộp không, có sợ hãi không, có hưng phấn không? Có thấy phấn chấn rằng mình sắp chứng minh được sự Chết và sự Sống? Thày bảo ma quỷ đã chết rồi, chúng đã chết. Thày bảo Thày hồi sinh, Thày sẽ Sống. Thày bảo Thày là Con Thiên Chúa, Thiên Chúa gọi Thày là Con.


Đức Jesus đã bảo, vì đã thấy Thày, anh tin, Phúc thay cho những kẻ không thấy mà tin.

Đúng vậy đấy, Phúc thay cho những kẻ không thấy mà tin.

Còn ngươi?

Có muốn đặt ngón tay vào vết đinh trên thân Thày?



Thứ Tư, 4 tháng 5, 2016

Valkyrie



Anh thường nghĩ về những trí huệ cổ xưa, vốn vượt ra ngoài biên giới của suy tưởng thuần túy - trí huệ là những ánh sáng chói lọi kết nối với Thần Thánh, chứ không phải là thói thông minh khôn ngoan biết học thuộc, nói hay, bình giỏi của người thường. Thật may mắn cho những người Norse, họ chẳng biết đến tư duy phàm tục vào những buổi ấy, trí óc họ như một khu vườn địa đàng, mà mỗi lần Thần muốn chiếu sáng nó thì cảnh tượng hiện ra đều chân thực tươi đẹp tuyệt cùng. Thời hiện đại này, khi con người ta chẳng còn biết phải nghĩ gì, tuyệt vọng trong trí huệ và nhân phẩm, chúng ta chỉ có thể tìm đến những thú vui giải trí, đồ đạc đắt tiền, danh vọng hoặc tiền bạc - chúng ta đã quên mất khu vườn Thần Thánh, quên mất những vùng trời ẩn tàng những sức mạnh bao la, không còn biết đến những điều thiêng liêng thánh sạch là thật sự tồn tại. 

Nhưng con người cổ xưa biết điều đó, cả khi họ không thấy, cả khi bị ma cảnh giăng bày vây hãm: họ Tin.

Điều gì đã làm tâm trí thuần nhất và dữ dội của những người xứ Norse khi nhìn lên bầu trời đầy những ánh cực quang chói lọi gọi ra cái tên Valkyrie? Có phải đôi mắt hoang dã không biết đến tham đòi và trói buộc của những người Norse đấy nhìn xuyên qua cảnh đó để thấy những Nữ Thần Thuần Khiết Bất Tử phụng sự Odin, họ chọn lấy những linh hồn anh hùng đưa vào cung điện Thần Thánh để chuẩn bị cho cuộc chiến tận thế Thần Ma?

Valkyrie, những mũi giáo của nàng có đủ nhọn để đâm thủng ma tâm và khổ đau? Khiên trên tay nàng có đủ cứng để bảo vệ Odin hùng dũng bay trên bầu trời và tiêu diệt mọi Hắc Thần Ma Vương? Nàng bất tử vì phụng sự, quyền phép vì thánh khiết, dữ dội vì biết mình là ý chí anh hùng của những linh hồn dũng mãnh tinh thuần phải không?

Valkyrie, ta biết có những kẻ gọi nàng là ma quỷ nơi chiến trường, vì chúng chỉ có thù ghét và hoảng sợ. Ta biết chúng nhìn nàng như nhìn vào hố thẳm và vực sâu của chính chúng - chúng có thấy gì đâu, có thấy được gì đâu. Chúng chạy trốn nàng khi nàng cưỡi con ngựa của Thần Thánh băng qua những chiến trường mênh mông, nâng đỡ những anh hùng gục ngã, đưa họ về nơi họ xứng đáng thuộc về.

Valkyrie, nữ chiến binh của chư Thần, nàng sẽ bay lên những tầng trời cao lẫn những lớp đất dày, mang về điều cao quý, bảo vệ điều thiêng liêng, mạnh mẽ khiến ma quỷ lùi bước, quyết liệt khiến kẻ hèn nhát phải tủi hổ. Phải không?

Đi đi, hãy đi con đường nàng thuộc về, con đường vĩnh diệu, vinh quang, con đường mà Thần ban cho nàng. Ta sẽ gặp nàng ở nơi nàng thuộc về.

Chủ Nhật, 1 tháng 5, 2016

Phù Vân, Thế gian (02)

Thằng bé giật mình lùi lại, tái mặt lắp bắp: "Con nghe Sư phụ con dạy rằng Tiên Môn Chi Chiến là chuyện không bao giờ xảy ra, đó là việc không thuộc về người tu Đạo. Tại sao người thuộc Hỏa Môn với Bạch Môn lại có mâu thuẫn được?" "Tiểu tử, chuyện ngươi không lý giải được thì là vô Đạo sao? Ngươi thấp trí lại có tâm phán xét lớn, ắt sau này sẽ nhiều lần làm tổn hại đến Đạo. Nguyên sự vụ đặt định ngay tại Nhân gian có các Nhân Thần và Thánh Nhân, nhưng giữa họ không phải lúc nào cũng là đồng nhất chí hướng, do đó khó tránh sinh ra trái ngược mà phải đạo lí phải lấy pháp lực ra làm chỗ so sánh. Đừng tưởng việc đó là ngẫu nhiên tùy ý, chính là trong việc đó sẽ lại có Thiên Ý đứng sau điều chuyển, lại phải xem xem tận lực tri Thiên Mệnh." "Cô cô, dù sao con cũng không tin rồi sư môn con sẽ xung đột với Liễu Hạnh Tiên Chúa mà gây ra Đại Phong Ấn khắp cõi phong bế Thanh Long Đại Mạch và cả 36 kỳ sơn, 72 dị tuyền." "Tiểu tử, đó lại không phải là chuyện ngươi dấy tâm can thiệp hay nhận định. Chuyện của Thần không như chuyện của người. Tiểu tử, ngày nào con người không hướng Thần thỉnh ý nữa, mà từ mình xét đoán Thần linh, ngày đó chính là lúc Thần không trđỡ con người nữa, để mặc họ do duyên nghiệp và sự hủy hoại của họ." Thằng bé vò đầu bực bội nói: "Cô cô, nói một là Thần, nói hai là Thần, vậy chứ trí óc con đđâu, kẻ không tự chủ được cả suy nghĩ, phải đón tuân Thiên ý, chẳng phải là mất đi lý trí, làm chuyện ngông cuồng cũng dễ sao?"  La Bình gõ đầu thằng bé, bảo rằng: "Ngươi chỉ tự khiến ngươi khổ. Ví bằng trẻ con muốn biết như người lớn, liền đòi tự lập tự nghĩ sao? Chúng phải học cách người lớn đoán xét, rồi dần dà theo sự trưởng dưỡng của Thiên Địa mới trưởng thành mà nghĩ như người lớn. Lại nữa, con người nếu thật muốn hòa với trí huệ của Thiên Địa, chẳng lẽ không phải là học cách Thiên Địa vận hành, tự mình hòa vào sự vận hành đó, rồi mới qua năm tháng cải sửa mới có thể có lý trí ở mức trí huđó sao? Ngươi tuy nói là bảo vệ lý trí mình, chẳng phải đang thốt ra những lời hủy báng Thần sao? Có điều ngươi tuổi nhỏ vô tri, lại thực ý là không muốn nói thế mà chỉ muốn đôi co với ta, nên ta thứ cho điều ấy".

Nó phụng phịu ngồi bệt xuống, băn khoăn suy tư. Đoạn lại hỏi: "Thưa cô cô, mà đây là đâu, tại sao trông u tịch thế này." La Bình chợt hỏi: "Này tiểu tử, ngươi không nhớ Sư Phụ của ngươi sao?" "Cô cô, Sư Phụ con có căn dặn con và sư muội rằng chúng con có duyên lớn, sau này thuận đâu đi nấy, đừng lưu luyến." "Vậy là người bèn không lưu luyến?" "Cô cô, Sư Phụ con dặn rằng Tình sẽ hành hạ con, sau này dẫu có Tình cũng tuyệt không được tỏ lộ, dù có bị Tình gặm nhấm cũng phải ứng xử bằng Trí, vậy nên dẫu con buồn hay không buồn, con đều không để cô cô thấy." La Bình mỉm cười gật đầu: "Tuy vậy đó không phải là mấu chốt trừ bỏ Tình, xem ra Sư Phụ ngươi dặn vậy vì sớm biết ngươi tất khổ vì Tình. Nhưng ta không có thêm thời gian nói với ngươi nữa, phía trước kia là một cửa động, ngươi phải học với vị trong đó, nếu sau ba năm ta quay lại ngươi không được học, thì cứ việc tự đi con đường của mình, ta xem như ngươi đã chết rồi, sau này cũng không cần cố tìm đến ta nữa." Nói đến đó La Bình đẩy thẳng bé lên phía trước, nó thấy mắt mình tối sầm lại. Lúc tỉnh dậy thì trời đã tối, phía trước là một cửa động nhỏ, nó tò mò quá liền đi vào. Có điều khi đi vào thì chđược mười bước đã thấy động cạn rồi, không có lối đi nữa, lại lạnh tối bốc mùi, thật khiến nó khó chịu. Nhưng trời đã tối, nó đành chọn một chỗ gần cửa động rồi nằm ngủ. Tuy vậy nó cũng không ngđược, vì bụng nó rất đói, lại rất khát. Nghĩ đến đó nó chợt tự nói: "Cô cô thật hồ đồ, đưa ta đến một động không người bảo ta học, lại còn không để lại đăn thức uống gì cho ta, vậy bảo ta phải làm gì? Sáng mai ta phải tự tìm đường ra khỏi nơi này." Nó nghĩ đến đó thì tâm lại động, khí tức khó chịu, liền đứng lên. Tự nhiên sự bực bội trong bụng không ngừng lớn, liền tự dậm chân lên nền đá. Nó lại nghĩ: "Ta chưa từng tự hỏi một hang động của núi thì ứng với điều gì trong con người. Núi là Cấn ở hành Âm Thủy, nói về nội tạng là ứng với sự chu chuyển dịch qua Thận. Thật lạ kỳ, làm sao núi lại là Thận được nhỉ? Nhưng cũng có lý, Núi là nơi dịch của Đất chảy ra đđiều hòa Thiên Địa, dưỡng Vật trợ Nhân. Nhưng Núi tượng là lớn cứng cố định, sao lại là Âm Thủy, phần thủy trong thủy cho được. Có thể cổ nhân nhầm chăng? Ta thấy quẻ Khôn thế vào chỗ quẻ Cấn thì thích ứng hơn. Sau này gặp Sư Phụ, ta phải đề cập kiến giải này." Thật ra thằng bé còn bé, không hiểu được rằng cái lý trong tu luyện là kẻ ở tầng nào nói chuyện tầng đó, nó còn chưa tu đến chỗ vượt qua tiêu chuẩn sinh mệnh của Núi, vậy mà tđàm chuyện Núi, ắt sẽ có kiến giải thiên lệch sai lầm.

Nó nghĩ đến chuyện người xưa ắt sai, thì rất đắc ý. Lại chợt thở dài: "Thận là nơi dung dưỡng tạp tính, một đằng lọc bỏ các tạp chất, một đằng chu chuyển hấp thụ các tinh chất. Nói rằng Kim sinh Thủy, thì chính là ở chỗ chức năng ấy của Thận mà sinh ra Thận. Động này thật giống như tâm ta, đen tối bế tắc mà xung lên uế khí, tiêu cực, ta lại theo uế khí đó mà phát tác, lại còn hình thành niệm đầu bất hảo, thật là tâm can ta tùy theo ác ý tạp niệm dưỡng thành mà hiện hóa. Ta thật đáng trách, tự nhìn lại chu trình sinh mệnh trong ta, thì cứ như vì điều xấu bẩn mà tuần hoàn, vậy thì chẳng biết đến đời nào mới có vòng vận chuyển tuần hoàn như Trời Đất (Chu Thiên). Nếu cô cô biết ta dám bình luân người như vậy, thật sẽ rất buồn." Thật ra trong tu Mệnh chính là có mấu chốt rất nhỏ như vậy: nếu từ ngoại cảnh mà tự biết Mệnh của mình có chỗ bất toàn, cái bất toàn đó biểu hiện cả trong việc làm ô uế Niệm, Tưởng, Ý, Trí lẫn cảm xúc hành xử, thì người đó chính là biết từ Thiên Địa mà nhận thức mình. Đây chính là biểu hiện của Chân Tu, vì thế trong nhà Đạo thường dạy chuyện phong thủy, Thiên Địa, Âm Dương, chính là muốn từ trong đó mà thấu biết Chân Tượng, cải sửa bản mệnh, luyện xuất Pháp Lực. Tuy vậy cũng cần nói rằng thằng bé có quan Tình rất lớn, mà Tình là theo từ ngoài mà hủy hoại, rất dễ lẫn với Hướng Nội, có khi còn hủy diệt cả năng lực Hướng Nội của người tu đạo. Một khi Niệm Tưởng Ý Trí đều bị Tình xâm nhiễm, thì khí tức nghịch hành, Mệnh đã hỏng cả rồi, dẫu có ngồi lì trước tượng Thần mà tụng Kinh giả tu, cũng không được gì nữa. Lại kể, thằng bé nghĩ tới đó thở dài ngồi xuống xếp bằng. Nó ngồi một lúc thấy lưng lại đau, ngực khó thở, nó lại nghĩ: "Ta thật đáng trách. Sư Phụ dạy ta rằng tư thế nghiêm mật của người có Đạo là lưng thẳng để Thân làm chỗ dựa cho Nội tạng, chính là có kiên định, Ngực thu làm chđịnh cho lồng ngực, chính là vững mạnh, đầu cúi để Khiêm Cung mà nhận được Thiên Khí, chân trùng để bình thản, chính là biết theo với Đất mà được sự nhàn. Vậy mà bình thường ta vặn vẹo tùy ý, nghiêng ngả loạn xạ, không Kiên Định, Vững Mạnh, Khiêm Cung, Thanh Thản ở Thân được, thì còn mong gì Thân ta tựu thành. A, vậy mà vừa nãy ta còn dám bình luận chuyện Núi là Thận hay Khôn là Thận, đúng là không ứng với Trời Đất mà luận chuyện Càn Khôn, không hiểu trời cao đất dày, thật đáng xấu hổ." Nó liền cố định thân lại, lưng càng đau, ngực càng khó thở, càng khó chịu nó càng cắn răng chịu. Đến mức nước mắt nó ứa ra, nó nghĩ: "Ta chịu không nổi thì sau này cũng chịu không nổi, căn bản là không có ý chí ấy." Nhưng nó đã đói mệt quá, lại cộng thêm ý chí không đủ mạnh, liền xoài người ra nằm trên mình động. Trong lòng nó tự thất vọng về nó vô cùng. Thật ra tâm cảm nó mạnh, nên khi thất vọng cũng cực đoan, người cực đoan khó mà đi xa được, cũng là khiếm khuyết của tuổi nhỏ chưa trải qua khổ nạn, chỉ quen vui đùa phán xét.

Trong khi nó còn đang mơ màng, thì trời đã sáng từ lúc nào không hay. Nó mệt nhọc tỉnh dậy, tìm đường đi xuống. Khi ấy nó mới thấy đây là một vùng núi kì quặc, núi tuy cao mà đất cũng dày lớn, thành ra không gây cản trở. Tuy vậy cây cối xanh tươi lạ thường, khiến tâm ý nó khá thoải mái, cũng do cung Pad còn mạnh quá, chỉ có điều không có cây ăn quả nào, toàn loài cây nó không biết tên. Nó cứ lững thững đi mãi cho đến Chính Ngọ thì mệt nhoài vì đói mệt. Nó lại ngã xuống. Mắt nó nhìn lên Mặt Trời gay gắt. Nó chợt nghĩ: "Thiên Khí mà chiếu thẳng vào mạch Âm trước Thân ta sẽ làm ta vốn đã kiệt lực càng phí sức." Nó liền lăn lại, mặt úp xuống Đất, lưng hướng lên Trời. Trong khoảnh khắc ấy nó lại muốn cảm nhận hơi ấm của Đất và sức nóng của Trời, liền thấy bụng ấm lại, lưng bừng lên, bỗng có thêm sinh khí. Nó tự bật cười nghĩ: "Ta khi kiệt sức mà mượn được tinh hoa của Thiên, tinh hoa của Địa, nên vòng vận chuyển theo Trời Đất mạnh lên, sinh khí tái hồi, đúng là đắc phúc. Tuy ta vẫn đói, nhưng phấn chấn được." Nó nằm như vậy đến khi thấy da mình bỏng rát, tự ngồi dậy vỗ đầu mình mà rằng: "Thật hồ đồ, hồ đồ, ta còn tham với Thiên Địa. Thân ta chưa đột phá, chỉ nhận được chừng ấy Thiên Địa khí, thêm nữa thì hoại Thân, đúng là Tham thì không biết dừng, suýt nữa tự hủy thêm Mệnh. Thân người vốn là cơ xương da huyết, tuy vậy vững mạnh thì không bằng Núi cao, lưu chuyển thì không bằng Sông dài, dẻo dai thì không bằng Cây cối, nên hấp thụ tinh hoa Thiên Địa đâu có được nhiều như vậy. A, con người sống trong Trời Đất, thật là nhỏ bé, ta muốn lớn lao như Trời Đất, phải hòa với Trời Đất, chẳng kể bản ngã mới được. Tuy vậy ta là theo tri kiến của mình mà tđắc, chứ chưa phải là thật đã chuyển hóa đến đó, hẳn là còn sót lại điều gì sai lầm trong nhận thức mà không tự biết. Muốn tự biết, thì ta có học được từ Thiên Địa không đây?" Nó nghĩ thế thì cũng đứng lên, cứ vậy mải miết đi về hướng Đông.

Đi mãi nó gặp một cây to bằng mười người ôm, trên cây mọc vô số quả, nhìn rất ngon lành đẹp mắt. Nó mừng quá vội trèo lên bứt quả ăn. Đang ăn thì cây gãy cành mà nó đang leo, ngã xuống đất đau điếng. "Ah, ta lấy của vật mà vô ơn, chỉ biết thụ hưởng theo dục vọng ăn uống. Thật đáng xấu hổ." Nó liền đứng dậy phủi đất, rồi chắp tay bái cái cây, đoạn nói to rằng: "Xin Cây thứ lỗi cho ta, tham của không biết kiềm, lại còn gây tội không biết hối, làm gãy cả cành của ngươi rồi. Nhưng ta biết cây cho quả vốn vì muốn đem quđi xa, ta xin đem những hạt giống của ngươi đi khắp nơi có đất đẹp mà gieo xuống." Đoạn nó nhìn lại quả trong tay nó, thấy màu tươi sáng rất thích mắt, nó nhắm mắt nghĩ: "Quả ngon mùi như đào vậy. Địa khí Mộc hóa rồi tiếp thu Thiên Khí đủ ngày tháng mới thành Quả, nên nói viên mãn là đạt được quả vị, thật không sai." Bỗng thằng bé giật mình nghĩ: "Ta tđêm qua tới giờ bỗng toàn nghĩ đến Thiên Địa, là do ngộ tính ta tốt, hay do có người chỉ bảo vậy." Nó nghĩ đến đó thì thức ngộ. Bèn quỳ xuống lạy ba lạy mà rằng: Thưa, con thật vô tri, xin cảm ơn Vị nào đã giáo huấn con, nhận của con ba lạy như là trọng ân con khó báo đền." Khi đó từ cái cây lớn bỗng có một cánh cửa mở ra, nhìn vào bên trong thấy là cả một cơ ngơi rộng lớn. Rồi một nhà sư trông rất cao lớn xuất hiện. Vị ấy cười lớn bảo: "Giỏi cho tiểu tử, thật có Phật tính. Ngươi có muốn theo ta tu Phật không?" Thằng bé không hiểu sao thấy xúc động phi thường, liền quỳ thế, không dám ngẩng lên, thưa rằng: "Con tạ ân Ngài. Xin Ngài cho con được biết xưng hô ra sao?" "Gọi ta là Không Lộ, hoặc gọi là Vô Đạo cũng được. Nếu ngươi theo ta, thì gọi là đệ tử Không Lộ phái, không thì là Vô Đạo phái, tùy ngươi thích sau cũng được, nhưng phải gọi ta là Sư Phụ."

Thằng bé nghe đến đó không kìm nổi ngước mắt lên bật thốt: "Không Lộ Thần Tăng. Bắc Nam có Tây Đông/ Đáy để tất có Rồng/ Vua mắc họa khó cứu/ Hãy hỏi Nguyễn Minh Không. Ôi!"


Nó liền dập đầu chín cái, cũng không dám đứng dậy.