Phẫn Nộ Đại Tôn Giả

Phẫn Nộ Đại Tôn Giả

Chủ Nhật, 22 tháng 3, 2015

Phù Vân (Ngũ hành, 03)


Thần Xanh Đỏ chợt hỏi: "Ngươi hiểu gì về Chân?". Nguyệt Quang cúi đầu suy nghĩ, đoạn nói: "Tôn sư, trước kia con hiểu Chân là điều Thật. Nay con biết Chân là tầng tầng lớp lớp sự tồn tại của sinh mệnh, pháp lý, thời không vô tận vô biên không thể nghĩ bàn. Trong đó lại có sự kết nối giữa các sinh mệnh tầng tầng lớp lớp, theo các phương lý đồng nhất nhưng khác dạng. Thưa tôn sư, Chân là làm đúng như Mệnh, nhưng người ta khi chưa biết cái thực là Mệnh, chỉ có thể chiểu theo Đạo mà hành. Tuy vậy chưa biết cái thực là Mệnh, làm sao biết cái thực là Đạo, đó là chỗ khó lớn của người tu luyện. Vì lẽ ấy, trước hết là đừng làm điều mà dục vọng hay quan niệm nhân gian xúi bẩy, sau đó nhìn nhận lại tất thảy những điều ấy, lại chiểu theo sự vận hóa đúng của những nhân tố ước chế được dục vọng hay phàm niệm mà nhận thức, dần dần biến cải những sinh mệnh trong mình theo những nhân tố ấy, đó chính là vô vi mà ngộ được Đạo, sự vô vi ấy là để nhận thấy điều Đúng. Để xâm nhập vào sâu trong thân mệnh của mình, lại cần đến các thần thông, công năng, phương thuật. Đó là lý do trong Huyền môn dạy Huyền thuật, Huyền thuật ấy chính là thực tướng của Vô vi, lại chính là nội hàm của Huyền môn (cửa dẫn vào cõi Huyền)".

Thần Xanh Đỏ nhìn thẳng vào mắt Nguyệt Quang, đoạn cười nói: "Ngươi nhắc lại sở ngộ của mình rằng trước kia nghĩ Chân là điều Thật, ta thấy đó là khiếm khuyết. Ở bề mặt Chân là điều Thật, có điều hãy nhớ điều Thật với mỗi người là sự thật ở trong mình, không phải sự thật về người khác. Vì thế ta nói với ngươi rằng, Chân là Mệnh, đó chính là để nói Chân là điều đúng về chính mình, lại chính là sở đắc về Mệnh của chính mình. Nhân thế chỉ biết đến nhân-gian, thì chỉ hiểu được Chân là Sự Thật mà họ biết tới, lại chiểu theo sự thật đó mà hành sự. Nhưng họ có sự thật nào ngoài sự thật mà Phàm trí nhận thức được? Vì lẽ đó chiểu theo sự thật mà hành sự, chính là chiểu theo nhận thức của họ mà hành sự. Mắt ngươi lại khẽ động, con ngươi lại hơi hướng ra ngoài, chứng tỏ quan niệm của ngươi lại sắp phát tác, là ngươi đang thắc mắc tại sao ta lại bàn đến nhân gian phải chăng, lại tại sao ta nói ngươi khiếm khuyết chăng? Hãy nhớ rằng trí phát tán và tâm bảo trì sẽ khiến ánh mắt thu lại, tinh hoa nội liễm. Là vì mắt do tim quản, tim do Âm khí bồi dựng. Lại nói với ngươi rằng, kẻ làm theo điều Chân, tất không làm điều thừa, mà mọi lời nói ý thức cử chỉ đều chính xác phi thường, sự chính xác ấy lại tùy thuộc vào sự luyện tập thân-tâm-ý mà có được. Ngươi hiểu điều đó chứ?".

Nguyệt Quang mỉm cười đáp: "Tôn sư, con đã hiểu cái lý ấy. Con muốn trình bày xưa và nay của mình vào lúc này không phải là do muốn lý giải Đạo, mà là bởi trong con còn có phần muốn thể hiện, còn có chấp vào hình tướng. Tim con khiến Tâm không bảo trì được toàn vẹn, khiến mắt con dễ phát tác tạp niệm, là vì con còn chấp vào Tình và hình tướng.  Kẻ vừa chấp vào tình và hình tướng, phải chăng là còn háo danh, nếu vậy con thấy mình thật đáng thất vọng, khác nào đang phỉ báng sư môn". Thần Xanh Đỏ nghiêm giọng: "Tiểu tử, ngươi hãy biết ước chế các chủng tâm của mình. Ngươi nếu thực biết tâm ý ngươi có chỗ khiếm khuyết, thì phải dựa vào việc ước chế các tâm ấy làm điều Chân của ngươi, chớ dựa vào sự dằn-vặt hay lời nói. Ngươi hãy biết rằng kẻ lấy điều dằn vặt làm cao thượng, thì cũng không khác gì kẻ hèn hạ. Người thực tu lấy ân hận là nền tảng để sửa đổi, đó là chỗ lớn của Trí. Kẻ nhân gian lấy tình tiết ra từ ân hận ám ảnh thù oán làm chỗ phóng túng phát tác, đó là chỗ nhỏ của nhân-tâm". Nguyệt Quang nghe lời ấy, trong khoảnh khắc thấy tinh thần sáng lạn, mục quang sáng mà không kiêu, da dẻ bỗng chốc tươi mà khoe, v mặt đẹp nhưng thanh tịnh. Đoạn thưa rằng: "Tôn sư, Tim thuộc về Hỏa, Thận thuộc về Thủy, Gan thuộc về Mộc, Phổi thuộc về Kim. Phải chăng ước chế mỗi chủng ấy lại cần đến một chủng thần thông?".

Thần Xanh Đỏ bật cười: "Khá lắm tiểu tử, ngươi bảo trì được Tâm, nhờ thế mà khiến lời dạy dỗ của tôn sư được trí tiếp nhận trọn vẹn, lập tức khiến ngươi ngộ ra điều ta muốn nói, lại khiến hình thể ngươi biến đổi, thành tựu thật phi thường. Này tiểu tử, trong mệnh người ta có một chủng được lưu trữ qua nhiều kiếp, ấy là nghi tâm, còn gọi là Âm Hại. Sinh mệnh trong tam giới này, kiếp nào cũng có nhận tổn-hại, hễ bị thương-tổn, lập tức sinh ra sợ hãi và thù hận, đó là hai tính phản với Đức, cũng là thái cực của vật chất Âm Hại. Sợ hãi và thù hận thường truyền vào Tim, Thận, Gan, Phổi. Âm hại vào tim thì khiến người ta khó chịu mà muốn ghét bỏ. Âm hại vào Thận thì khiến người ta tiêu cực mà nghi ngờ, phát sinh ác niệm với người khác. Âm hại vào Gan khiến người ta đố kị mà muốn trừ bỏ người khác. Âm hại vào Phổi khiến người ta tranh đấu với người khác. Con có rõ cái lý ấy không?". Nguyệt Quang nghe vậy, im lặng cúi đầu, đoạn nói: "Con biết điều nghe thấy không phải là Ngộ. Xin tôn sư cho con được Ngộ". Thần Xanh Đỏ lại bật cười. Tiếng cười hóa thành một bông sen màu vàng kim bao quanh người Nguyệt Quang, lại phát ra cửu sáng minh quang, chiếu thẳng thành một cột sáng lên bầu trời.

Nguyệt Quang còn chưa kịp nghĩ đã thấy mình rơi vào một không gian đầy bùn đất và mùi tanh hôi, thân thể bị trói chặt. Lại thấy những người đủ loại đến chửi rủa, đánh đập, lại có yêu ma các chủng đến đòi ăn thịt, chúng lại cắt từng miếng thịt trên người chàng, đau đớn khôn tả. Chàng nghĩ: "Đây là ảo cảnh, sự đau đớn này là trả nghiệp, là để thân thể ta tích lấy sự trường cửu". Trong tu luyện, một niệm là phân Thiện-Ác. Nếu khổ đau hơn mà Nguyệt Quang vẫn giữ được niệm ấy, thì tính là chân-Ngộ. Nếu giữa chừng lại xuất sinh oán niệm, thì niệm ấy chính lại biến thành một dạng nhân gian: trong mê khổ lại mong tin vào điều thần diệu. Sự tu luyện chính là phức tạp như thế, nên ở cao tầng không căn cứ vào lời nói hay ý niệm nhất thời, mà phải xem niệm đó có đủ năng lực dẫn đạo người ta hay không. Lúc nói thì nhiệt huyết, lúc làm thì tiêu tán, sau đó lại dằn vặt, rồi lại ăn năn không thể làm theo Chân-Đạo, thì chính là tính rằng đó là biểu hiện nhân gian, không quá quan được. Lại chính là vì trong tu luyện thì Tâm THân Ý thực sự là như nhất, nên người nào xuất một niệm, phải xem có hành được niệm ấy không, đó mới tính là một niệm ấy thực là Ngộ. Kẻ có Phật tính còn phải xem có muốn tu thực hay không, bước vào tu xem có theo chỉ đạo của Pháp môn mà hành sự hay không. Tâm-Thân-Ý là một, đạt đến điểm đó thì là Mệnh cũng đang chuyển hóa. Thật khó trong vài lời mà nói rõ sự ấy.

Cứ như vậy suốt nhiều ngày, chừng như chàng không chịu được nữa, bỗng có người nữ đến cắt dây trói, đoạn nói với Nguyệt Quang, "Đi đi, dựa vào vai thiếp". Nguyệt Quang khi ấy tinh thần tỉnh táo, nhưng thân thể đã đau đớn tan nát, không biết gì hơn, liền vịn vai người nữa mà đi. Đi được nửa ngày đường, đến một làng nọ, người ấy hất Nguyệt Quang ra hét lớn, "Dâm tặc, xin cứu với". Nguyệt Quang thấy ở đâu vô số người, ai cũng trông hết sức tử tế, cùng hô vang lên: "Giết tên dâm tặc, gửi nó lên quan". Nguyệt Quang thở dài nghĩ: "A, con người thật dễ kích động, chưa cần biết đúng sai đã có thể chửi rủa sao, vậy mà hình dạng của họ tốt đẹp thế kia". Vừa có một niệm ấy, Nguyệt Quang thấy thân thể đau đớn vô cùng, hết sức thực tại, tâm không bảo trì nổi nữa, trí vẫn phát tán. Chàng lại bật ra một niệm: "Nếu ta thoát cảnh này, lật bàn tay chúng phải trả giá đấy chăng". Lại kể, thiếu nữ kia nhìn Nguyệt Quang, mắt sợ hãi vô cùng, đoạn lập cập nói: "Ngươi… Ta cứu ngươi, vậy mà ngươi lại,… thật đê tiện".

Nguyệt Quang không nói được lời nào, thấy cả trẻ con cũng đến ném phân tro vào mình. Đám người đó giải Nguyệt Quang đến một sân lớn. Chàng bị đặt ở đó nhiều ngày, đói khát, lở loét, lúc nào cũng có người đến lăng mạ chàng, họ lăng mạ xong lại nhắc rằng đạo đức thật suy đồi mới có loại như chàng xuất hiện. Nguyệt Quang thấy tâm lý chấn động vô cùng, nhưng không thể thốt ra lời nào. Lại có một đại hán to cao đến xách Nguyệt Quang lên, nhổ vào mặt, rồi quăng lên một giàn gỗ, nói rằng: "Thứ cặn bã vô luân, ngươi nên chết đi. Trên đời này, ta hận nhất là kẻ dâm ô xảo trá". Nguyệt Quang thấy nội tạng như bể nát, lại không kìm nổi mà xuất một niệm: "Ta làm sao để thanh minh đây, ta lại không thể cất lời. Những kẻ này miệng nói chân chính, hành sự hồ đồ, không cần biết phải trái đúng sai, nhân gian thật đáng hận". Niệm ấy vừa xuất ra, tim thận gan phổi lại càng đau nhói, như ngàn kim đâm không dứt, dường như máu chảy từ trong từng nội tạng, không thể nào chịu thấu. Nguyệt Quang toát mồ hôi, bỗng thấy xa xa có một bóng người đứng khuất sau gốc cây. Trong khoảnh khắc ấy lại thấy rõ đấy là sư bá Từ Thức. Liền thấy một tiếng nói vang trong đầu mình: "Hài tử dại dột, ngươi định lấy oán hận đáp lại tổn thương sao? Hai điều đó thì khác gì nhau? Ngươi sợ chăng? Nếu thật là không sợ thì có thù hận không? Tim gan phổi thận của ngươi là cửa tích lũy lại mọi nỗi thù hận sợ hãi ngươi có biết không?".

Nguyệt Quang nghe vậy như bừng tỉnh. Liền nhắm mắt lại, giữ cho tâm bảo trì, trí phát tán, rồi đi sâu vào tim thận gan phổi của mình. Chàng thấy trong tim toàn hình ảnh mình đang uất ức tìm cách đáp trả người khác, trong thận toàn hình ảnh mình đang suy nghĩ giết hại trả thù, trong gan toàn hình ảnh những kẻ đền tội máu me bị đánh đập xuất hiện, trong phổi toàn cảnh tự tay mình trả hận, khiến những kẻ gây tội quỳ xuống van xin. Đi một lượt như vậy, chàng bất giác thở dài: "Ah, ta thù hận và sợ hãi vì tổn hại Thân thì ít, mà tổn hại về Danh thì nhiều. Làm sao có thể ước chế được các chủng này đây". Thực ra ngay lúc ấy, chính là Nguyệt Quang đang quá quan phần lớn rồi, vì lúc đó chàng không bị những cảnh trả hận báo thù kia kích động, lại qua chỗ trí huệ mà hiểu được chấp trước, lại chỉ nghĩ đến cách ước chế mình mà không nghĩ gì về những hoạn nạn mình phải gánh chịu. Lúc đó bỗng thấy Từ Thức xuất hiện bên trong, cười bảo rằng: "Này hài tử, tim cần Phong, thận cần Bế, Gan cần Tỏa, Phổi cần Tuyệt. Phong là bao kín lại không để hở, Bế là đóng chặt lại không để phát triển, Tỏa là khóa lại không cho vọng động, Tuyệt là cắt đứt không để phục hồi. Này hài tử, ngươi có hiểu bốn chủng thần thông Phong-Bế-Tỏa-Tuyệt ấy không?".

Nguyệt Quang chắp tay đáp: "Con đội ơn Sư bá đã gia trì giúp đỡ. Chỉ riêng việc thấy Sư bá đã khiến tâm con định lại, trí con sáng ra, khiến con có thể nghĩ biết mà không quá nghi ngờ, con biết điều  sai lệch một phần Sư bá đã gánh hộ con đấy rồi. Thưa Sư bá, phải chăng Phong-Bế-Tỏa-Tuyệt thực chất là một dạng Trí-Huệ. Tôn sư dạy con rằng Âm hại vào tim thì khiến người ta khó chịu mà muốn ghét bỏ. Âm hại vào Thận thì khiến người ta tiêu cực mà nghi ngờ, phát sinh ác niệm với người khác. Âm hại vào Gan khiến người ta đố kị mà muốn trừ bỏ người khác. Âm hại vào Phổi khiến người ta tranh đấu với người khác. Như vậy Phong là dùng Trí mà minh giải sự ghét bỏ khó chịu, Bế là dùng trí mà ngăn chặn ác niệm nghi ngờ, Tỏa là dùng Trí mà khóa chặt đố kị, Tuyệt là dùng trí mà đoạn dứt tranh đấu". "Ngộ hay lắm, nói ta nghe, vì sao không dùng Chân Tâm, lại dùng Trí huệ?". "Thưa Sư bá, dùng Âm-Hại là do thương-tổn trong tâm trí mà sinh ra, đều là Âm chất, tồn trữ vô hình trong thân tâm ý. Chỉ có thể dùng Âm chất tinh hoa là trí huệ, nhìn nhận chúng mà Phong-Bế-Tỏa-Tuyệt chúng". Từ Thức cười nghiêng ngả: "Này hài tử, đó gọi là Vô-Tâm".

"Vô-Tâm". Nguyệt Quang xuất một niệm ấy, liền liên tục niệm Phong-Bế-Tỏa-Tuyệt, dùng niệm lực kiên định mà ước chế Tim Thận Gan Phổi, giải thể ước chế từng hình ảnh, từng ảo ảnh đau khổ uất hận nghi ngờ đố kị tranh đấu trong Thân Mệnh. Chàng cứ theo Niệm ấy mà diễn hóa, lúc thì thân thể hóa thành con rồng trắng, lúc lại biến thành sen xanh, lúc là kim quang chiếu tỏa khắp, lúc lại là thanh âm trong như tiếng Đại hồng chung vang vọng.Những hư ảnh Âm hại nhiều như cát trên sa mạc, mà việc chàng liễu giải thanh trừ lại như nhặt từng hạt cát hóa nó thành ánh sáng. Cho đến lúc sa mạc hóa thành một biển sáng mênh mông, khi ấy chàng thấy mình chìm vào một mặt trời rực rỡ, kim quang chói lọi. Đột nhiên có người vỗ đầu chàng, mở mắt ra đã thấy Thần Xanh Đỏ cười hài lòng. Nguyệt Quang bật dậy, đoạn quỳ xuống đập đầu ba tiếng.  Thần Xanh Đỏ cười nói: "Ta không nhận đệ tử bằng cái đập đầu, ngươi giữ lại cho ngươi đi". Nguyệt Quang đáp: "Tôn sư đã biết Sư bá sẽ giúp con, chính là muốn Sư bá hỗ trợ sư-môn, Sư bá giúp con trừ bỏ Âm Hại, chính Sư bá phải trừ bỏ tận tuyệt Âm Hại, phải vậy chăng?".

Thần Xanh Đỏ hô lớn: "Sư đệ nghe thằng bé nói rồi chứ". Đoạn Từ Thức bay từ đỉnh núi xuống, ôm lấy Thần Xanh Đỏ cười lớn: "Huynh thật khéo an bài, chắc một niệm lo lắng của đệ cũng không giấu nổi huynh". Thần Xanh Đỏ lại quay sang Nguyệt Quang: "Tuy vậy về sau ngươi chớ bình luận chuyện sư môn, kẻ dưới đàm luận bề trên chính là khởi đầu của loạn, nay tốt mai sẽ thành xấu, đó là một phần thuộc về Chân". Nguyệt Quang mỉm cười ngồi xuống kết ấn, lại chờ Thất Tử quan còn lại.

Nhật nguyệt hợp bích


Quá khứ?

1. Quá khứ hiện tại tương lai là thực tướng của đức và nghiệp, mà hư hình là Duyên. Nếu thực sự em có thể thay đổi quan niệm mà nhìn nhận mọi sự từ đức và nghiệp, thì em sẽ dần thoát khỏi ước chế của Tình, dần thấy bớt phẫn nộ, đau khổ, vui sướng, hân hoan, hồi hộp... về những gì diễn ra quanh em hoặc với em. Anh biết điều này rất khó, cảm xúc thì quá thực tại, mà toàn bộ thân người rốt cuộc lại được thiết kế để làm một căn nhà nhân gian đầy ắp êm ấm, vui buồn, hi vọng, thất vọng...

Nếu em thực tu và sau này viên mãn, em sẽ càng rõ rằng duyên và thời gian của đời người chỉ là một hạt cát kí ức mà em không còn cần biết đến nhiều, những kí ức ấy sẽ được gói ghém kĩ và cất vào một không gian bé nhỏ. Chính những gì em đã nỗ lực để tốt đẹp, để lớn lao, để tử tế, hoặc bằng tên gọi khác, để quá quan, tinh tấn, lên tầng, viên mãn... sẽ được giữ lại cho chúng sinh trong thiên giới của em. Ở nơi đó, dù là chúng sinh, linh thần, thiên vương, pháp vương...đều sẽ vận hóa, hành động, cư xử, sống, mang theo những ý niệm thuần chính, dung nhẫn như em đã viên thành trong quá trình tu luyện.

Vậy là em có thể chọn lựa giữa một bên là thời gian của làm người, một bên là thiên giới mà em sẽ khai sáng hoặc thuộc về.

2. Lại nói chuyện nghiệp và đức. Khi em giúp một ai đó như một nghĩa cử đời thường, nó không sao cả, đó là con người giúp nhau, giữa đó là có duyên nghiệp, vậy thôi. Khi giúp ai thì hãy vô tư, đừng cân nhắc thiệt hơn, đừng mong người ta báo đáp, đừng cầu người ta trân trọng... Đó là tiêu chuẩn Chân Thiện rất nhân gian. Dù em là người tu hay không, thì điều đó vẫn cần đảm bảo: không làm thì thôi, đã làm thì phải nỗ lực hết sức, đừng để lợi ích cá nhân khiến em thù hận, bực bội, so đo. Nhưng nếu em là một người tu, lại đang ở giai đoạn độ nhân, em phải hiểu rõ một số điều. Đây là những gì bạn anh viết cho anh về việc đó:

"Trước nhất, giúp một ai vượt qua cái Khổ-Nạn nào, sau này rất có thể anh phải gánh một lượng khổ-nạn tương tự. Đây là một phần chân tính của Thiện. Những người anh giúp có thể quay ra hãm hại, tiêu diệt anh: lúc này anh còn có thể Thiện nữa không. Nghĩa là, ở tầng cao một chút mà nói, sự Thiện của anh có vô tư không vậy, Nhẫn tính của cái Thiện đó đến mức nào, anh có thể bao quản chúng sinh đến đâu, anh sẽ quay ra thù ghét và phản nghịch lại chính tính Thiện của mình hay không, pháp lý hay tổn hại là quan trọng... Và những Pháp vương, chư Thần, chúng sinh... trong thiên giới của anh sau này sẽ kế thừa đặc tính đó ở nhiều mức độ.

Thứ hai, hãy biết rằng anh giúp càng nhiều, có thể phản hoại nhằm đến anh càng lớn. Khi một người được anh giúp muốn hủy diệt anh, chắc chắn họ sẽ tìm mọi lý do để thấy kẻ giúp mình là xấu xa và cần rời bỏ bằng nhiều cách. Nhưng cái Thiện có một âm hưởng mãnh liệt, nên họ sẽ tìm cách loại bỏ phần vật chất Thiện mà anh gieo vào và kết nối trong họ, bằng cách triệt để tiêu trừ ảnh hưởng của cái Thiện, ví dụ như lôi kéo, kích động người khác. Nếu họ thất bại, họ có thể sẽ thêm thù hận và dằn vặt về anh. Nếu họ thành công, có thể họ sẽ không sung sướng gì, nhưng ít nhất họ có thêm đồng loại để cùng ngồi trấn an nhau trước khi phải đối diện với báo ứng đang tới. Sự thể này, đến lượt nó, lại để xét xem anh có thể kiên định độ nhân hay không, vượt qua nó cũng chính là vượt qua được những yêu cầu căn bản của giai đoạn độ nhân, viên thành các thần thông, đặc tính của từ bi, trong đó thường có đủ cả Bi-Trí-Nguyện-Hạnh, Tứ nhiếp, Tam nhẫn các dạng.

Cuối cùng, rất nhỏ và rất quan trọng, quyết định xem anh có viên thành Thiện tính ở tầng Bồ Tát hay không, đó là anh có hoan hỉ, vui mừng, kích động khi cái ác muốn tiêu hủy anh sẽ phải đối mặt với báo ứng hay không. Hãy nhớ rằng giai đoạn này quyết định xem Từ bi, ở điểm quyết định, có thoái trào trở lại thành tình hay không".

Anh cho rằng bạn anh có ý đúng. Khi xuất thế gian pháp ở tầng La Hán, Thích Ca hoàn toàn không ưu phiền về tà ma. Quan Âm Đại sĩ thì xuất một niệm hủy của thế gian, từ đó mà có chủng tự Hum, có cuống họng của con người.

3. Có lẽ ai cũng nên cố gắng có được tâm từ bi, thuần chính. Anh nghĩ Phật chủ cũng như chư Phật hộ Pháp đều hài lòng về điều đó. 

Thứ Bảy, 21 tháng 3, 2015

Đạo Đức Kinh, chương 41, Lão Tử

上 士 聞 道勤 而 行 之中 士 聞 道若 存 若 亡下 士 聞 道大 笑 之不 笑不 足 以 為 道故 建 言 有 之明 道 若 昧進 道 若 退夷 道 若 纇上 德 若 谷大 白 若 辱廣 德 若 不 足.建 德 若 偷 真 若 渝大 方 無 隅大 器 晚 成大 音 希 聲大 象 無 形道 隱 無 名夫 唯 道 善 貸 且 善 成.

(1) Thượng sĩ văn Đạo, cần nhi hành chi. Trung sĩ văn Đạo, nhược tồn, nhược vong. Hạ sĩ văn Đạo, đại tiếu chi. Bất tiếu, bất túc dĩ vi Đạo.
(2) Cố kiến ngôn hữu chi: Minh Đạo nhược muội. Tiến Đạo nhược thối. Di Đạo nhược lỗi. Thượng Đức nhược cốc. Đại bạch nhược nhục. Quảng đức nhược bất túc. Kiến đức nhược thâu. Chí chân nhược du.
(3) Đại phương vô ngung; đại khí vãn thành; đại âm hi thanh; đại tượng vô hình. Đạo ẩn vô danh. Phù duy Đạo thiện thải thả thiện thành.

Dịch nghĩa (Megara dịch)
(1) không dịch.
(2) Nên người xưa mới có ý rằng: Đạo Sáng dường như tăm tối, Đạo tiến dường như thoái lui, Đạo bình đẳng dường như khiếm khuyết, Đức cao dường như sâu trũng, Rất thanh sạch dường như nhục nhã, Đức rộng lớn dường như thiếu sót, kiến lập Đức dường như mệt mỏi. Rất Chân dường như biến đổi.
(3) Đất lớn không có góc, Khí lớn không kết tụ, Âm lớn không có tiếng, Tượng lớn không có hình, Đạo ẩn vô danh. Chỉ có người làm theo Đạo mới có đắc cái tốt lớn mà viên thành.

Chú giải của Megara:
(1) Trước Đạo thì cao thấp, tốt xấu, trên đưới... mới lộ rõ. Đây là lời của Bậc Đắc Đạo mà nhìn. Chính là vấn đề tầng thứ và Đạo-lý mà xét cái cao thấp, tốt xấu, đúng sai... Vì biết Đạo là thế, kẻ thực muốn Đắc đạo thì làm theo Đạo, cái đúng là Đạo thì vận hành như Đạo. Kẻ ở giữa tu luyện và nhân gian thì lúc có Đạo tâm, khi thì phàm tâm, tùy nghi hoàn cảnh mà tâm nào ước chế thao túng, vật chất tạp loạn. Kẻ không thể làm theo Đạo, sẽ cười người có Đạo, tất khinh rẻ người có Đạo. Thế nên, người muốn theo Đạo lớn, sớm muộn cũng bị nhân gian cười chê. Đó là chỗ không thể như nhất của Đạo và tục. Nội hàm của lời này còn có cái cực lớn của Mệnh, chỗ chính xác của Chân, là nơi Trí huệ Hành sự  như nhất. 
(2) Đạo gồm là cả sáng-tối, ngày-đêm, mặt trăng-mặt trời, Đạo sáng (hiển lộ thần quang) lại dường như tối (tiến vào vô tận các không gian chuyển giao vật chất). Trường của mệnh càng lớn, vật chất càng vi quan, nên Đạo tiến dường như thoái lui. Trước Đạo vạn vật đều bình đẳng, đều theo duyên-nghiệp-đức, tính-vận-mệnh của mình mà diễn hóa, vì thế có được có mất, có hưởng thụ có trả nghiệp, có giàu có nghèo... Bề ngoài bất bình đẳng, bên trong là bình đẳng, Đạo bao quản cả, đó chính là Đạo bình đẳng dường như khiếm khuyết. Đức càng lớn, càng tinh hoa, tất trường của Đức càng vi quan càng can hệ đến các an bài sâu xa, nên Đức cao dường như sâu trũng. Có có Đức lớn phải chịu nhiều tổn hại, mất mát, chịu đựng, nhẫn khổ, làm việc gì cũng như khó nên, trí huệ lớn mà bị khinh thường...nên Đức lớn dường như thiếu sót. Khi quá quan, tăng Đức, có thêm Đức thì lại thường phải mệt mỏi, bị dằn vặt hành hạ, hi sinh đủ danh lợi tình. Khi trả hết nghiệp rồi thân thể thanh sạch, nên nói rất thanh sạch dường như nhục nhã, là vì không có sự nhục nhã ấy thì không tận trừ được nghiệp, không có thêm được Đức, đó là cái lý của vũ trụ. Kẻ không ngừng gia cường đức để diễn hóa theo Đạo mà thành Công, thì tầng thứ không ngừng tăng lên, nên cái rất Chân dường như biến đổi. 
(3) Khi viên mãn rồi, thì có thế giới vô tận vô biên, tịnh thổ là không có ranh giới trong pháp giới ấy, nên nói rằng Đất lớn không có góc cạnh. Lúc ấy vật chất luân chuyển trong thân vị Đạo ấy không tụ thành hình tướng, Lời của vị ấy thì chư Thần chúng sinh trong Pháp giới của vị ấy đều không nghe được, vật chất của vị ấy là tối cực vi quan của Pháp giới nên chư Thần chúng sinh trong đó không thấy được vị ấy, nên nói Khí lớn không kết tụ, Âm lớn không nghe được, Tượng lớn không có hình. Lại nữa, tên của vị ấy không có chúng sinh nào trong Pháp giới gọi được, cũng không được gọi, nên nói Đạo ẩn vô danh, bao trùm hết thảy.
Đây là sơ giải ở tầng tu luyện căn bản. Mong người hữu duyên có thể rất Chân rất Thiện mà liễu giải.


Chủ Nhật, 8 tháng 3, 2015

Chấm dứt

Chắc lâu rồi ta mới gọi tên em, lần này lại để đoạn tuyệt nhau. Lần này cay đắng vạn sầu, nhìn nhau chỉ biết ngoảnh đầu mà đi, lần này đừng nói câu gì, từ mai em đã phân ly với đời. Bao giờ mây núi thảnh thơi, đem em chôn ở giữa trời làm vui. Bao giờ rừng núi ngủ vùi, anh thăm lại chốn bùi ngùi hại nhau... 

Có lẽ thật khó để ta gặp em lần nữa, lần này em đã chìm trong lửa. Lửa đốt bàn tay đen, lửa thiêu rụi thói quen chết chóc. Lửa khiến xương da tóc huyết đều nhất quyết rã rời. Lửa cháy từ nơi em giết những người đầu tiên, lửa cháy sang nơi em giết những người kế tiếp. Mỗi bước chân em đi có người ngã gục, có ma quỷ đứng lên xưng là thánh thần, có kẻ tần ngần bỗng giương mắt làm ác, có kẻ tâm hồn bát ngát bỗng muốn hẹp hòi như thác đỏ dung nham. Em khiến kẻ giàu có muốn tham lam, khiến người thiện lương muốn tuyệt đường thân quyến. Em kéo cả trăm nơi nghìn tuyến, để cùng em giết một vài người. Em vừa giết vừa cười, giọng thê lương như dao đâm vào đá. 

Ta đứng lặng nhìn em, lòng phiền muộn khôn tả. Mắt em có dòng lệ vạn ngả, mỗi giọt đều thúc bách chúng sinh cùng bật khóc bật cười. Em điên loạn mười mươi, em hung cuồng khổ sở. Có cái ác nào có thể lỡ dở? Nên em phải ác đến tận cùng. Nhưng gần đến kết chung lòng em bỗng day dứt. Em không hối hận mà oán tơ tình đã đứt, nhưng biết làm sao đây đã quá muộn rồi. Em nhìn lên trời nhổ vào những vì sao, em nguyền rủa trời cao không nghe em nói. Em soi vào giòi bọ thấy mình bé nhỏ. Em biết ngày mai lửa sẽ bắt đầu? 

Ta chẳng biết làm gì nữa đâu. Ta đã cho em rất nhiều cơ hội. 

Đã quá muộn rồi, dẫu chỉ để xưng tội. 

Em vẫn ngồi trên than đỏ uống máu con rồng đen. Em chìm vào lãng quên. Chìm vào rã rời vô tận.

Không còn hận, oán, rủa, nguyền...